Monday, December 15, 2008

Phần 4-Những Tên Đặc Công Đỏ Việt Thường- Nam Nhân Lý Tuấn Phần 4




Những tên đặc công đỏ

trong phong trào

đòi dân chủ cho Việt Nam


Việt Thường – Nam Nhân – Lý Tuấn

Bài 4

Thưa ông Bùi Tín,

Là một nhà báo có quyền, ông đã được chứng kiến tận mắt nhiều sự việc nên ông đã viết về cái "huyền thoại" giải phóng dân tộc đó trong "Hoa xuyên tuyết" như sau: "Cuộc chiến tranh đã hao phí hàng triệu sinh linh, đều là con em đất Việt, đồng bào ruột thịt cả. Để làm gì? Để đến nỗi này chăng? Nói là giải phóng đất nước, giải phóng đồng bào, mà sao hàng trăm nghìn người lại phải vào ngồi tù trong các trại tập trung cải tạo, kéo dài hàng trăm, hàng ngàn ngày, với biết bao tủi cực và khổ đau. Nhân danh lẽ phải? Nhân danh lẽ công bằng? Nhân danh cách mạng? Tôi chẳng sao lý giải nổi nữa! Và cách mạng, hy sinh, chiến đấu để làm gì? Để sau toàn thắng, cuộc sống của nhân dân ta còn lầm than, bi đát hơn cả thời chiến tranh, để Nguyễn Du sống lại sẽ còn phải khóc cho thân phận hàng chục vạn nàng kiều hiện đại, đang nhan nhãn trên các hè phố Hà-nội, Sài-gòn khi nắng chiều vừa tắt."(38)

Đọc những dòng trên, người Việt lương thiện nào cũng đau sót, tê tái trong lòng. Vậy mà ông, tác giả của những dòng đó, lại có thể viết lời thương tiếc Trần Độ khi hắn chết!!! Trong suốt 15 năm dài, Trần Độ đã cổ võ, chứng kiến cuộc chém giết đẫm máu của những người mà ông gọi là "con em đất Việt, đồng bào ruột thịt cả", vậy mà hắn chẳng những không thấy lương tâm cắn dứt mà còn tự hào về thành tích uống máu "con em đất Việt". Cho đến chết Trần Độ vẫn chưa một lời ăn năn, hối hận với các nạn nhân. Không những thế, Trần Độ còn vênh váo, tự hào là "siêu công dân", "công dân loại 1" ngay trước khi chết! Ông lý giải cách nào để có thể nhìn nhận một tên sát nhân từ răng tới tóc như thế là "đấu tranh cho dân chủ"?

Một số người, u mê hoặc cố tình u mê nào đó, cho rằng Trần Độ là tác giả của nghị quyết 5 - cởi trói cho văn nghệ sỹ - nên phù phép cho sát thủ chuyên nghiệp Trần Độ thành "anh hùng đấu tranh cho dân chủ của Việt Nam". Là một nhà báo, là một đảng viên cộng sản có 47 năm tuổi đảng, chắc chắn ông không tin điều đó. Vậy tại sao ông lại "mũ ni che tai"? Ông thừa biết cơ cấu tổ chức của đảng cộng sản là chẳng có ủy viên trung ương nào là tác giả của một nghị quyết trung ương. Một nghị quyết T.Ư. nào đó về một chính sách nhất định là dựa trên cơ sở Nghị quyết của đại hội đảng. Đề xuất cho ra đời một nghị quyết T.Ư., phải là ủy viên bộ chính trị phụ trách bộ môn mà nghị quyết T.Ư. đề cập đến. Tập hợp của những kẻ độc quyền đề ra đường lối, chính sách gọi là"bộ chính trị". Đó là lý do sự ra đời và tồn tại của cái gọi là "bộ chính trị".

Cho nên cái nghị quyết 5 (mà Trần Độ mạo nhận là tác giả) được ra đời dựa trên cơ sở Nghị quyết đại hội đảng về "mở cửa" và "đổi mới" của thời Nguyễn văn Linh là tổng bí thư. Trần Độ là ủy viên trung ương, phụ trách văn hóa - tư tưởng, qua đường lối "đổi mới" nên được cho qua Nga-xô học tập về "công tác quản lý văn hóa - tư tưởng". Học tập về, Trần Độ được Nguyễn văn Linh sai làm đề cương về vấn đề "văn hóa - tư tưởng". Bản đề cương đó là ý kiến của nhà văn Nguyên Ngọc (cùng đi học ở Nga với Trần Độ), được Trần Độ "cóp-pi", được cả Đỗ Mười (khi đó là thường trực ban bí thư) lẫn Nguyễn văn Linh góp ý, sau khi Nguyễn văn Linh giành 2 ngày họp với văn nghệ sỹ để nghe các ý kiến đề xuất. Bởi vậy, nếu nói đến tác giả của nghị quyết 5 thì phải nói đó là Nguyễn văn Linh.

Bởi vì, ngay sau khi Nguyễn văn Linh rời chức trưởng ban dân vận trung ương và ủy viên bộ chính trị để về lại Sài-gòn nắm chức bí thư thành ủy Sài-gòn, thì từ Sàigòn đã có một số thay đổi về quản lý kinh tế và sử dụng văn nghệ sỹ. Cụ thể là, nhà nghiên cứu âm nhạc học từ Nga-xô về, là giáo sư Ca lê Thuần (con giáo sư Ca văn Thỉnh) được đưa vào thành ủy, phụ trách văn hóa – văn nghệ của Sài-gòn. Một nhà văn ở ngoài Bắc còn nằm trong ẩn số là Nguyễn mạnh Tuấn, được Nguyễn văn Linh chống lưng, nên cho ra đời cuốn đầu tay, mang tên "Đứng trước biển". Nội dung sách phê phán quan điểm bảo thủ, tư duy cằn cỗi trong quản lý sản xuất, nằm trong não trạng của tất cả các cấp, trừ "đồng chí bí thư thành ủy" là sáng suốt! Và về kinh tế thì, hiện tượng Ba Thi - giám đốc cửa hàng lương thực Sài-gòn - được "ô dù" và "đề cao", đến mức xóa sổ luôn Sở lương thực thành phố. Và Ba Thi thì vượt ra ngoài phạm vi lương thực để buôn cả xăng dầu v.v… Kể từ đó, Nguyễn văn Linh bắt đầu "ghiền" được tán tụng bằng văn chương và chú ý đến văn nghệ sỹ. Cho nên khi nắm chức tổng bí thư, Nguyễn văn Linh, là tổng bí thư đảng cộng đầu tiên, chịu ngồi 2 ngày liền lắng nghe ý kiến của văn nghệ sỹ mà chỉ chiếm có 50 phút để phát biểu ý kiến cá nhân. Nghị quyết 5 được bộ chính trị thông qua là như vậy!

Trong một cuộc trả lời phỏng vấn của đài á châu tự do, Trần Độ có nói đến việc "anh Nguyễn văn Linh hiểu lầm tôi, anh ấy giận tôi", nhưng Trần Độ né nói nguyên nhân. Cái nguyên nhân ấy chính là Trần Độ vốn hay ba hoa, đi đâu cũng cứ nói láo rằng mình là tác giả của nghị quyết 5. Vì thế mà Nguyễn văn Linh khinh thường và ghét Trần Độ. Nhân "mở cửa" không ổn, tập đoàn Nguyễn văn Linh "đóng cửa" lại, Nguyễn văn Linh cho dẹp nghị quyết 5 và cho anh chàng "ba phét" Trần Độ "ngồi chơi sơi nước". Ỷ mình là công thần bị bạc đãi, Trần Độ bật lò xo. Sự việc được tô màu là đấu tranh cho dân chủ!!!

Giờ thử xét lại nội dung "đấu tranh cho dân chủ ở Việt Nam" của Trần Độ là gì?

Cái gọi là nghị quyết 5 mà Trần Độ nhận vơ là tác giả, và có thể rất nhiều kẻ, chỉ biết cái tên "nghị quyết 5" chứ chưa chắc đã đọc và hiểu nội dung của nó, nhưng vẫn lớn lối bàn láo!!!

Trước khi có nghị quyết 5 thì văn nghệ sỹ, trí thức ở Việt Nam bị coi "không bằng cục phân", thân phận văn nghệ sỹ, trí thức vẫn là nô lệ của đảng cộng sản, tùy tiện sử dụng theo hứng. Đến khi nghị quyết 5 ra đời, thì nội dung của nó vẫn khẳng định đảng phải lãnh đạo công tác văn hóa tư tưởng mà văn nghệ sỹ, trí thức vẫn chỉ là công cụ của đảng.

Cái mới của nghị quyết 5 là dựa vào đường lối "mở cửa", "đổi mới", để đổi mới cách quản lý công tác văn hóa – tư tưởng và đổi mới cách quản lý lực lượng văn nghệ sỹ trí thức, nhằm khai thác có hiệu quả hơn cho sự độc quyền đảng trị.

Nghĩa là nội dung nghị quyết 5 đặt vấn đề tạo điều kiện thuận lợi hơn cho văn nghệ sỹ trong sáng tác. Nhưng thân phận văn nghệ sỹ vẫn phải chịu sự lãnh đạo của đảng (như con chó vẫn bị xích cổ vậy)!!!

Vẫn còn dưới sự lãnh đạo của đảng thì dân chủ ở chỗ nào? (xin quý vị thầy bói sờ voi trả lời cho!) Đã thế còn dưới sự lãnh đạo của một tên học chưa qua bậc 2 phổ thông như Trần Độ!!

Đấy là về cái gọi là nghị quyết 5.

Còn những điều Trần Độ nói và bàn thì chẳng có điều gì mới lạ hơn những tụi cầm quyền trong tổ chức Việt gian cộng sản đã, đang và vẫn tiếp tục nói. Xin tham khảo sự so sánh qua bài của ông Đại Dương, có tên "Thưa chuyện với ông Phạm thanh Chương." (Tạp chí Người Dân, số 148, 12-2002 - Costa Mesa - CA. USA)

Là một trong những người chủ chốt gây ra cảnh tàn sát nhân dân Việt Nam Cộng Hòa, đẩy những nam nữ thanh niên miền Bắc Việt Nam vào lò lửa chiến tranh vì chiến lược bá chủ toàn cầu của đế quốc đỏ Nga-Tàu, Trần Độ chưa từng chảy một giọt nước mắt hối hận.

Là một người được cho làm ủy viên trung ương đảng cộng bằng chỉ định trước, liên tục 5 khóa liền, không hề thấy Trần Độ biết xấu hổ vì cái không có dân chủ đó. Cho đến tận lúc Trần Độ "đang hí hửng" với cái nghị quyết 5, thì Trần Độ vẫn chưa mở mắt để thắc mắc tại sao ban bí thư chỉ định Nguyên Ngọc làm "bí thư đảng đoàn" văn hóa văn nghệ, mà không có bầu bán. Nghĩa là trong đầu Trần Độ hoàn toàn không có khái niệm dân chủ (như mấy anh "thầy bói sờ voi" đoán mò).

Trần Độ cho đến chết vẫn tự hào về thành tích làm tay sai cho Nga-xô, Tàu cộng xâm lược, chém giết, tàn phá Việt Nam Cộng Hòa; tự hào được tên đại Việt gian Hồ chí Minh khen thưởng; sau khi bị đồng bọn "đá đít" ra khỏi trung ương thì giọng lưỡi Chí Phèo đã thốt ra rằng vẫn là "siêu công dân", "công dân loại một"!!!

Trần Độ có thể viết kể lể về việc bốc mộ cho bà chị, nhưng lại không thể có tuyên bố về việc tập đoàn Việt gian Lê khả phiêu, Nông đức Mạnh dâng đất, dâng biển cho Tàu cộng; có thể đi từ Hà-nội vào Sài-gòn thăm con và tuyên bố nhăng nhít đánh bóng cho bản thân và lũ gia nô mới, nhưng lại không thể về thăm quê ở Thái Bình để tìm hiểu, ủng hộ nhân dân Thái Bình đòi dân chủ và công lý!!!

Trần Độ đặt vấn đề về dân chủ không liên tục và mạnh mẽ như bọn cầm quyền. Và điểm giống nhau một cách tuyệt đối giữa Trần Độ và bọn cầm quyền là nguyên nhân không thể nào xây dựng dân chủ được ở Việt Nam chính là tập đoàn Việt gian cộng sản đề cao tư tưởng Hồ chí Minh và vẫn độc quyền nắm giữ lực lượng vũ trang và công an, tòa án là phạm vi vẫn bị tránh né đề cập đến.

Trần Độ và Trần Khuê là hai kẻ bổ sung cho nhau, nhằm thần tượng hóa Hồ chí Minh. Trần Khuê có học hơn Trần Độ nên "láu vặt", luôn luôn nịnh "đồng chí tổng bí thư". Chỉ tiếc cho Trần Khuê "tự mình răng cắn phải môi"; nịnh Đỗ Mười, mép còn chưa khô nước miếng thì Đỗ Mười đổ, Phiêu thay; lại lên dây cót lưỡi nịnh Lê khả Phiêu, còn đang ca vọng cổ chưa kịp xuống xề thì Phiêu lại kềnh và Nông đức Mạnh thay thế!!!

Tập đoàn Việt gian cộng sản đương quyền lấy tư tưởng Hồ chí Minh làm kim chỉ Nam.

Trần Độ cũng quyết noi theo con đường của Hồ chí Minh, nghĩa là coi việc tập đoàn Việt gian cộng sản nắm quyền cai trị là đương nhiên đúng như vậy, là tất nhiên phải như vậy. Cái mô hình "dân chủ đa đảng" trong đầu Trần Độ cũng giống như của Hồ, nghĩa là có vài đảng vệ tinh như kiểu Dân chủ và Xã hội xưa kia, để rồi cài đảng viên cộng sản vào lãnh đạo giúp cho thêm thắm thiết tình đoàn kết. Thí dụ như đảng viên cộng sản Hoàng minh Chính từng làm tổng thư ký đảng Dân chủ, và các bọn khác như Nguyễn thành Lê, Cù huy Cận, Phạm Hồng, Nguyễn việt Nam v.v. làm ủy viên trung ương của đảng Dân chủ. (Nguyễn thành Lê sau là ủy viên trung ương đảng cộng, phụ trách trưởng ban đối ngoại trung ương; Cù huy Cận là ủy viên thường vụ đảng đoàn cộng sản của bộ văn hóa thông tin; Phạm Hồng sau giữ ghế phó chủ nhiệm ủy ban liên lạc văn hóa với nước ngoài kiêm bí thư đảng đoàn cộng sản; Nguyễn việt Nam sau 4-1975 vào Sài-gòn là ủy viên thành ủy cộng sản kiêm chủ tịch hội đồng nhân dân thành phố Sài-gòn; còn Hoàng minh Chính xin đi Nga-xô học và về là Viện trưởng Viện triết học Marx-Lê).

Sau khi bị đá đít ra khỏi quyền lực, sự đấu tranh của Trần Độ chỉ là chống cách thức lãnh đạo của tụi đá đít Trần Độ, vì Trần Độ cho rằng như thế sẽ làm hại uy tín của đảng cộng. Nghĩa là Trần Độ muốn được có quyền lực trở lại để giữ uy tín cho đảng cộng bằng cái mô hình xã hội chủ nghĩa na ná như của Đặng tiểu Bình (chắc là không dùng xe tăng đè chết những người đòi tự do dân chủ như Đặng đã làm ở Thiên-an-môn, mà sẽ dùng xe lu (xe lăn đường) đè chết cho nhuyễn xương thịt với nhau hơn!!!). Một tên tướng quân phiệt, tắm máu dân trong suốt 57 năm, lại có thể "ngộ" về dân chủ?! Nói vậy chẳng khác nào "tú Bà" của Nguyễn Du về già "hoàn lương" (bằng tuyên bố mà thôi)!!!

Trần Khuê thì ca ngợi Hồ chí Minh, nâng lên thành chủ nghĩa.

Cả ba đều thờ chung "một thần" là Hồ, cùng là đồng đạo, đạo hữu cả, cho nên cả bọn chúng đều có quan niệm về dân chủ y hệt nhau, nghĩa là dân chủ cuội!!!

Chỗ khác nhau là Trần Độ bị đá ra khỏi quyền lực, Trần Khuê đang mê tiếng tăm và quyền lực. Có thế thôi!!! Còn nếu Trần Độ vẫn có quyền lực, Trần Khuê được chia sẻ quyền lực thì bọn chúng chẳng bao giờ chống nhau mà "úm ba la, ba ta đoàn kết"!

Bây giờ xin chuyển qua một nhân vật "đấu tranh cho dân chủ ở Việt Nam" nữa, từng được vài anh chàng thầy bói sờ voi ở hải ngoại cung kính nâng lên là "chí sĩ", là "đại trí tuệ"!!! Đó là tiến sỹ Nguyễn thanh Giang.

Đây là một thứ tiến sỹ, trí thức điển hình trong lò nướng Ba-đình mà ra: tham vọng lộ liễu; thích "thấy sang bắt quàng làm họ"; đường lối "đầu voi đuôi chuột"; tư duy sôi thịt tiên chỉ đình làng" và v.v.

Cái tham vọng, khoe khoang lộ liễu của Nguyễn thanh Giang là ở chỗ chẳng biết phân biệt thời điểm, chỗ nào cũng nói đến cái tôi một cách lố bịch, chẳng biết ngượng ngập là gì! Hết khoe là bạn của Trần đức Lương, lại là bạn của Trần Độ. Nào là "góp ý" cho Trần Độ chôn xác ở quê Thái-bình, đừng thèm để chôn ở Mai-dịch. Khi viết về Lê chí Quang thì ngay đầu dòng đã khoe là tự Lê chí Quang đến xin được làm quen. Chuyện này chẳng ăn nhập gì với việc phản đối vụ bắt Lê chí Quang. Rồi y như trong một cuộc họp tổ công đoàn cơ quan, ở ngoài Bắc trước đây, để bình bàn xem ai được mua "quần đùi" hay "áo may-ô" phân phối, Nguyễn thanh Giang khoe đủ thứ nào lao động tiên tiến, chiến sỹ thi đua, thậm chí cả việc cơ sở đề nghị phong anh hùng (xin chú ý là mới đề nghị chứ chưa được chấp nhận; và nếu như có được chấp nhận thì cũng qua vài cấp nữa thanh lọc. Thông thường cả chục ngàn trường hợp mới có một trường hợp được duyệt là chiến sĩ thi đua toàn quốc mà thôi. Còn anh hùng thì khó hơn sổ số giải jackpot rollover). Ấy thế mà cũng khoe "cái chưa thể có được"!!! Háo danh đến lẩm cẩm u mê như vậy thì làm sao chân thành đấu tranh cho dân chủ được!!! Xin được trích lại ý kiến của ông Bùi Tín (mà có thể nói là của hầu hết những người còn nhân phẩm, dù chỉ là quét rác, bán rau chứ chẳng cần phải có bằng tiến sỹ) về cái "trò khỉ" đó như sau:

"Ai cũng cho việc bình bầu tiên tiến và ưu tú là hình thức đến mức nhảm nhí, nhưng nó vẫn tồn tại bền bỉ. Vì ở mọi nơi, trong thời đại mới này, đã có quy ước ngầm là làm cho xong chuyện; và thế là cả làng đều là tiên tiến hết, 100 phần 100 tiên tiến là chuyện bình thường!"(39)

Ai cũng biết Trường Chinh là Mao-ít trăm phần trăm, cả từ tên cho đến tư duy; là kẻ chịu trách nhiệm về "cải cách ruộng đất", "chấn chỉnh tổ chức", "đánh nhân văn - giai phẩm", "cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh", "hợp tác hóa ở nông thôn"; là kẻ soạn nghị quyết 9 (khóa 3) thân Tàu cộng; là kẻ đánh cho Kim Ngọc (bí thư tỉnh ủy Vĩnh Phú) về tội "khoán sản phẩm đến các hộ nông dân"; là kẻ cách chức bộ trưởng bộ đại học và trung học chuyên nghiệp của giáo sư Tạ quang Bửu vì giáo sư Bửu không chịu "chính sách phân biệt lý lịch" trong thi tuyển vào đại học trong nước và cho đi học nước ngoài; là kẻ ngay 1-5-1975 đã lớn tiếng ra lệnh "miền Nam phải tiến lên chủ nghĩa xã hội" và v.v…, ấy vậy mà khi Trần Quỳnh (trợ lý của Lê Duẩn) viết sách chê bai Trường Chinh thì Nguyễn thanh Giang đã sủa ầm lên là Trần Quỳnh "bôi nhọ đồng chí Trường Chinh". Với cái não trạng này liệu Nguyễn thanh Giang có thể chân thành đấu tranh cho dân chủ ở Việt Nam không?(!!!)

Về tội ác của tập đoàn Việt gian cộng sản dâng đất, dâng biển cho Tàu cộng, sự việc rành rành như vậy mà Nguyễn thanh Giang "lập lờ" chạy tội cho bọn chúng bằng cách tuyên bố rằng chúng bị lừa!!!(???)

Cố tình dâng đất và bị lừa để mất đất là hoàn toàn trái ngược với nhau. Cách tuyên bố như vậy của Nguyễn thanh Giang, trẻ em lớp một cũng có thể hiểu được Nguyễn thanh Giang chống hay chống đỡ cho tập đoàn Việt gian cộng sản bán nước! Qua việc này, bộ mặt Nguyễn thanh Giang chống ai, tưởng đã quá rõ.

Trong bài gửi cho Lê hồng Anh, bộ trưởng mới của Việt gian cộng sản, Nguyễn thanh Giang khoe khoang theo kiểu là đàn anh, là thế hệ trước của Lê hồng Anh. Cũng với cách nhìn đó, khi bốc thơm Trần Độ thì kể nào là Trần Độ đã là tướng thì Lê đức Anh mới là thượng tá và v.v. Lối tư duy tiên chỉ đình làng như vậy thì Nguyễn thanh Giang làm sao hiểu nổi ở Mỹ hiện nay, phó tổng thống Dick Cheney từng là bộ trưởng quốc phòng thời Bush cha, thế mà nay chịu dưới quyền Bush con!

ở Hà-nội trước đây, cái tên Nguyễn thanh Giang dường như chẳng có ma nào để ý đến. Người ta thường nhắc đến những nhân vật như Nguyễn đình Tứ, Nguyễn văn Hiệu, Nguyễn văn Đạo, Hoàng Phương, Phan đình Diệu, Vũ đình Cự, Thái văn Trừng, Lương đình Của, Phan huy Lê, Trần quốc Vượng, Thái bá Vân, Từ Chi, Tô ngọc Thanh, Đặng xuân Kỳ, Ca lê Thuần, Vũ hoàng Địch, Phong Hiền, Nguyễn phúc Giác Hải v.v. Đặc biệt với nước ngoài, người ta khen kiến thức uyên bác của giáo sư Từ Chi và nhà phiên dịch Đặng vĩnh Thiên (một số giáo sư trường đại học Yale có qua Việt Nam); khen nhà ngôn ngữ Cao xuân Hạo, khen các bác sỹ Trương công Quyền, Nguyễn tài Thu.

Chính vì chẳng ai biết đến "cái đuôi" của Trần đức Lương là Nguyễn thanh Giang nên Nguyễn thanh Giang cứ mặc cảm tự ty, chủ động "tự ca ngợi" loạn xà ngầu đến lố bịch!

Một người háo danh, thấy "sang bắt quàng làm họ", lố bịch đến mức con trai của Trần Độ cũng từ chối không muốn gặp mặt thì làm được cái trò gì trong công cuộc đấu tranh cho dân chủ ở Việt Nam. Những kẻ đó, mà cờ đến tay, gần như chắc chắn sẽ quay cán cờ mà đánh dân rồi và lại lên mặt khoe đủ thứ bà rằn về cái tôi rất đáng ghét!

*****

Tuy nhiên, nếu loại bỏ những phần tử cơ hội kể trên, quả rằng ở Việt Nam hiện nay có một số nhân vật trẻ tuổi rất có lòng vì nước. Đó là:

1) Lê chí Quang, rất dũng cảm kêu gọi "Cảnh giác Bắc triều". Vì thiếu thông tin, tài liệu trung thực, nên Lê chí Quang có một số quan niệm chưa chính xác. Một khi được tự do nghiên cứu, cập nhật thông tin, tài liệu, chắc chắn con người có nỗi đau và lo cho đất nước như thế sẽ tự điều chỉnh được quan niệm của mình về thực trạng của đất nước trong quá khứ và hiện tại.

2) Nguyễn vũ Bình, một nhà báo trẻ, dám giẫm lên điều 4 hiến pháp cộng sản 1992, đòi lập một chính đảng. Cũng trong cảnh bị bưng bít và đói thông tin như Lê chí Quang, nên Nguyễn vũ Bình, chưa biết đến lũ "xanh vỏ đỏ lòng", lũ "cò mồi" ở hải ngoại nên còn chưa chín chắn khi tiếp cận thông tin từ ngoài vào. Thí dụ cụ thể như việc khen quyển "Tổ quốc ăn năn" của một thò lò chính trị, táo bón sử liệu!

3) Phạm hồng Sơn, một trí thức trẻ với đúng nghĩa trí thức (chứ không phải là nhân viên chuyên môn cao cấp), đã sáng suốt khi "lẳng lặng" quảng bá tư tưởng dân chủ. Và, cũng rất dũng cảm biết hậu quả của việc làm đó sẽ ra sao.

4) Nguyễn khắc Toàn, một thương gia thành công, một người rất khiêm nhường, không ồn ào kiểu thùng rỗng như Nguyễn thanh Giang. Hoạt động giúp những người biểu tình đòi ruộng, đòi đất, chứng tỏ Nguyễn khắc Toàn có nhãn quan chính trị sắc bén, thấy được lực lượng chủ lực đấu tranh dành dân chủ ở Việt Nam hiện nay chính là "cái đám quần chúng nông dân bị bóc lột; cái đám thị dân nghèo khổ, ăn bữa sáng lo bữa tối" ấy mới dám đem thân mình dành lấy quyền sống, quyền làm chủ, chứ không phải như loại Nguyễn thanh Giang, cho con gái đi học nước ngoài, làm việc ở Anh-quốc, đời sống no đủ, ngồi phán nhăng phán cuội để cuối cùng cũng ngoan ngoãn đi bầu cử quốc hội ngụy quyền cộng sản!

5) Linh mục Nguyễn văn Lý, một người can đảm dấn thân, sáng suốt nhìn rõ bộ mặt Việt gian lưu manh của tập đoàn cộng sản cầm quyền hiện nay.

Sự đoàn kết của giáo dân ở An-truyền, Nguyệt-biểu là một minh chứng phương pháp vận động quần chúng đứng lên đấu tranh dành quyền tự do dân chủ của linh mục Nguyễn văn Lý rất hiệu quả.

6) Các vị lãnh đạo tinh thần khác, ngoài các sư sãi và linh mục quốc doanh, cũng là những người đấu tranh không mệt mỏi.

7) Trong thực tế cũng như về mặt lý luận, lực lượng đấu tranh cho dân chủ ở Việt Nam hiện nay chính là quần chúng lao khổ ở nông thôn, thành thị, miền núi. Vì là nạn nhân cùng cực nhất bởi sự thống trị của tập đoàn Việt gian cộng sản khát máu; bởi sự bóc lột của giai cấp tư sản đỏ câu kết với tư bản ngoại quốc, nên họ là lớp người đã, đang và sẽ đem cả sinh mạng của mình dành lại quyền tư do làm người!

Muốn đấu tranh xây dựng quê hương Việt Nam thành một nước tự do, dân chủ, nhân bản, phồn vinh, theo kịp đà tiến bộ mọi mặt của nhân loại, cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản xâm lược can liên minh hỗ trợ cho nhau đối với những lực lượng kể trên ở quốc nội. Nghĩa là như ông cha ta đã dạy: "Chọn mặt gửi vàng".

Quên quá khứ, xóa bỏ hận thù

Tình trạng Việt Nam hiện nay có thể chia làm 3 thành phần:


1- Những người Việt Nam ở trong nước hiện vẫn phải chịu sự thống trị độc tài và tàn bạo của đảng Việt gian cộng sản; khoảng 80 triệu;

2- Cộng đồng người Việt tỵ nạn xâm lược của Việt gian cộng sản đang sinh sống ở nước ngoài; gần 3 triệu;

3- Đảng Việt gian cộng sản với trên 2 triệu tên.

Âm mưu nhuộm đỏ không chỉ toàn nước Việt Nam, mà gồm cả hai nước láng giềng của Việt Nam là Lào và Căm-bốt, được biểu hiện qua việc ra đời của đảng cộng sản Đông dương từ 1930.

Âm mưu triệt hạ các thành phần nồng cốt của Việt Nam về mọi mặt từ sản xuất nông nghiệp, công thương nghiệp, tiểu thủ công, quản lý hành chính, văn hóa nghệ thuật, truyền thống dân tộc, giáo dục đào tạo v.v. để dễ dàng bị thôn tính toàn diện cả đất đai, sông biển; cả thân xác và tâm hồn con người bởi đế quốc đỏ Nga-Tàu, núp dưới cái áo chủ nghĩa quốc tế vô sản Marx-Lê, do tập đoàn Việt gian cộng sản thực hiện, bị phơi bày qua cái gọi "Xô-Viết Nghệ tĩnh 1930-31" với khẩu hiệu:

"Trí, phú, địa, hào

Đào tận gốc, trốc tận rễ"


và đảng kỳ của đảng cộng sản Đông dương (12-1951 đổi tên thành đảng Lao động Việt Nam) chính là quốc kỳ của Nga-xô: cờ đỏ, búa liềm màu vàng ở góc trên. Sau này bị lật tẩy nên tập đoàn cầm quyền trong đảng Việt gian cộng sản sửa lại tý chút là cho búa, liềm màu vàng nằm ở giữa cờ đỏ.

Từ nguyên nhân ra đời của tổ chức đảng, từ đảng kỳ cho đến đường lối chính trị ngay từ phút đầu đã chỉ rõ rằng đảng cộng sản Việt Nam là một tổ chức Việt gian, công cụ bành trướng của đế quốc đỏ Nga-Tàu ra toàn khu vực Đông-nam-á. Danh xưng "mẫu quốc" của chủ nghĩa thực dân châu Âu được tô màu cho hấp dẫn thành "Anh Cả Nga-xô" và "Anh Hai Trung cộng", còn các nước nô lệ đỏ được đội cái tên là "nước bạn".

Phần 5- Những Tên Đặc Công Đỏ Việt Thường- Nam Nhân Lý Tuấn Phần 5



Những tên đặc công đỏ

trong phong trào

đòi dân chủ cho Việt Nam


Việt Thường – Nam Nhân – Lý Tuấn

Bài 5

Không được quên quá khứ!

Chính nhờ truy tìm quá khứ mà ngày nay chúng ta có đủ nhân chứng, đủ tài liệu để chứng minh cho hiện tại và các thế hệ tương lai của Việt Nam hiểu rõ nguyên nhân sự tụt hậu của Việt Nam so với các nước láng giềng; sự mất đất, mất biển; tài nguyên thiên nhiên bị tàn phá, truyền thống của dân tộc bị xóa bỏ, bị lai căng; những đặc tính đặc thù của dân tộc bị tàn lụi; lịch sử dân tộc bị xuyên tạc; cộng đồng dân tộc chia rẽ; đầu óc sùng ngoại rất đáng lo ngại; sự hình thành cộng đồng người Việt gốc phía Bắc ở trong Nam; sự hình thành cộng đồng người Việt ở hải ngoại v.v…

Cái nguyên nhân đó chính là sự ra đời của cái gọi là đảng cộng sản Đông dương (1930) và hiện nay là sự tồn tại của đảng cộng sản Việt Nam!

Cho nên, những kẻ kêu gọi quên quá khứ đều nằm trong các thành phần sau đây:

1) Tập đoàn Việt gian cộng sản đang tiếm quyền thống trị ở Việt Nam;

2) Tụi tay sai cho tập đoàn Việt gian cộng sản, theo "voi hít bã mía";

3) Tụi có quyền lợi hoặc đang âm mưu tìm quyền lợi qua việc câu kết với tập đoàn Việt gian cộng sản;

4) Những người thiếu thông tin trung thực về cộng sản, nghĩa là bị ngộ độc thông tin bởi những ngòi bút hoặc táo bón thông tin, hoặc vô trách nhiệm và, cuối cùng là những ngòi bút bất lương;

5) Những người khiếp sợ bạo quyền, cúi đầu trước danh lợi.


Kêu gọi quên quá khứ có nghĩa là xóa bỏ môn sử học, khảo cổ học v.v… như kiểu Hồ chí Minh, khi nắm quyền thống trị Việt Nam, đã xóa bỏ bộ môn luật, xóa bỏ bộ tư pháp chăng?

Việc làm đó có lợi cho ai và hại cho ai?

Cho dù với động cơ nào đi nữa, việc kêu gọi quên quá khứ là một hành động bất lương, phản khoa học!!!

Thưa ông Bùi Tín,

Ông có biết tại sao các kết luận của ông trong 2 cuốn "Hoa xuyên tuyết" và "Mặt thật" luôn luôn mâu thuẫn với hình ảnh sống động mà ông mô tả không? Và, có lúc ông bế tắc để kêu lên rằng: "Tôi chẳng sao lý giải nổi nữa!"(40) Cái điều ông không thể lý giải nổi đó là:

* Tại sao Hồ chí Minh khúm núm, ngoan ngoãn chấp hành mọi ý kiến của Stalin và Mao!

* Tại sao Hồ cùng toàn đảng cộng sản Việt Nam lại có "một thái độ thụ động vô lý, mất hết khả năng phản kháng và tự vệ!”(41)

* Tại sao những "Triết cố vấn", "Triệu cố vấn" và "Vương cố vấn" chuyên ngồi dựa vào ghế bành lớn, ưỡn bụng ra phía trước, có lúc gác đại cả 2 chân lên bàn, tay cầm ly rượu mao đài, nhổ nước bọt ồn ào xuống đất, để phán bảo cho những người nắm vận mệnh của đất nước Việt Nam. Thật thê thảm cho đất nước này!(42)

* Tại sao: "Ngay cả khi đảng phạm tội giết bừa hàng chục ngàn sanh mạng nhân danh chủ nghĩa Mác-Lênin và cách mạng vô sản, thì đảng vẫn cứ là vĩ đại! Đảng vĩ đại ngay cả trong sai lầm khủng khiếp nhất."(43)

* Tại sao: "Dân chủ trong Đảng cộng sản Việt Nam là con số không, ở trong xã hội cũng lại là một quả trứng lớn!"(44)

* Tại sao là chủ tịch nước kiêm chủ tịch đảng mà: "ông Hồ không có toàn quyền quyết định. Có một thế lực cao hơn ông! Ông Mao." (45) Vì: "trong thế giới cộng sản, quan hệ anh em là quan hệ chỉ huy, lãnh đạo. Lời khuyên, gợi ý bao giờ cũng được hiểu ngầm là mệnh lệnh."(46) Và, ông cũng viết rằng: "Cuốn tóm tắt lịch sử Đảng cộng sản Liên-xô dày cộp, khổ lớn, hơn 600 trang, do Stalin đích thân duyệt và sửa, do nhà xuất bản Sự thật in đi in lại đến hơn chục lần, là cuốn sách gối đầu giường của các cán bộ cộng sản cấp cao ở Việt Nam. Cuốn sách này được ông Hồ chí Minh dịch ra tiếng Việt khi ông còn ở trong hang Pắc-bó, tỉnh Cao-bằng."(47) và v.v…

Rồi ông lớn tiếng tự hỏi: "Và cách mạng, hy sinh, chiến đấu để làm gì?"(48)

Thưa ông Bùi Tín,

Nếu ông truy tìm quá khứ, cố nhớ lại quá khứ (như những điều ông đã mô tả lại trong 2 cuốn "Hoa xuyên tuyết" và "Mặt thật" của ông) với tinh thần phản tỉnh thật lòng, nghĩa là đúng thì nói và viết là đúng; sai thì nói và viết là sai; đừng lo sợ về việc "tự phủ định chính mình về tất cả mọi mặt"(49) thì ông đã có thể thanh thản giải đáp được mọi thắc mắc và cởi bỏ hết bế tắc trong đầu. Mọi chuyện rất đơn giản. Cái không đơn giản nằm ngay trong đầu ông. Đó là viết "Mặt thật" bằng một nửa con tim; nhìn "Mặt thật" bằng một mắt nhắm, một mắt mở! Cho nên "Hoa xuyên tuyết" của ông vẫn còn bị chìm trong tuyết, chưa trồi lên được khỏi mặt tuyết!!! Giống như phần bên kia của Mặt Trăng, không thể quan sát bình thường được, cũng không thể hư cấu rằng bên này có Cuội và Cây đa thì bên kia có vợ Cuội và Cây đề. Phải dùng vệ tinh, khách quan và khoa học mới thấy được trọn vẹn mặt thật!

Cái phần còn thiếu nghiêm trọng trong "Mặt thật" của ông là, trước khi phơi bày cái "Mặt thật" thì, ông vẫn sử dụng nhãn quan của một người cộng sản, coi việc Hồ chí Minh du nhập chủ nghĩa cộng sản vào Việt Nam là do lòng yêu nước và mục tiêu lý tưởng của đảng cộng sản là đúng, chỉ có cán bộ làm sai!(?)

Nếu ông nhớ lại quá khứ thì ông sẽ thấy rằng, cho đến ngày xuống tàu xuất ngoại, Hồ chí Minh chưa bao giờ tham gia một phong trào yêu nước nào. Đặt chân tới Pháp, việc đầu tiên của Hồ là làm đơn xin học ở trường thuộc địa. Vì bị khước từ, Hồ mới lang thang kiếm sống và may mắn gặp các cụ Phan văn Trường, Phan chu Trinh, Nguyễn thế Truyền khai tâm cho Hồ về lòng yêu nước và cho Hồ dùng cái tên chung của cả nhóm là Nguyễn ái Quốc. Những trí thức tiền bối đó đã dẫn dắt Hồ vào con đường chính trị, để rồi Hồ gia nhập đảng Xã hội của Pháp và sau đó tham gia vào nhóm phân hóa thành đảng cộng sản Pháp mà cả Hồ lẫn cái tập đoàn cộng sản Việt Nam của Hồ vẫn tự hào. Khổ quá, ông đương kim tổng thống Pháp Chirac được bầu ra chắc chắn cũng nhờ nhiều lá phiếu cửa cử tri gốc Việt. So sánh như thế, hy vọng ông hiểu cho.

Bước vào hoạt động chính trị, người nào cũng xuất phát từ cái chung và cái riêng. Có người thì cái chung là chủ đạo và lấn át hoặc triệt tiêu cái riêng. Ngược lại, có kẻ thì cái riêng nhanh chóng tiêu diệt cái chung. Hồ chính là loại người như vậỵ

Là một người dân ở xứ thuộc địa, Hồ được công khai và tự do hoạt động chính trị giữa thủ đô của "tên Đế quốc, thực dân"; tự do thành lập cái tổ chức để tiêu diệt "đế quốc, thực dân", chẳng lẽ Hồ không có khả năng phân biệt với cái "Mặt thật" ở Nga-xô, là nơi Hồ chỉ được phép tuân lệnh tuyệt đối.

Với động cơ yêu nước thì cái "Mặt thật" ở Nga-xô khi ấy không thể hấp dẫn Hồ được.


Hồ bước chân tới Nga-xô là lúc Lê-nin chết. Ma to, cỗ lớn, cái lăng chình ình ở Quãng Trường Đỏ của Lê-nin thật hấp dẫn đối với Hồ. Đó là lý do Hồ một lòng một dạ với Nga-xô, với "lãnh tụ" Stalin. Bởi chỉ có dựa vào cái mẫu quốc đỏ này, Hồ mới hy vọng trở thành cái bóng của Lênin - Stalin ở Việt Nam. Nghĩa là, khi cái tên Nguyễn ái Quốc đổi sang cái tên Nga là Line, thì Hồ đã chấp nhận đưa Việt Nam vào vòng chư hầu của Nga-xô. Từ đó, mọi hoạt động của Hồ đều do động cơ vị kỷ cá nhân dẫn dắt. Hồ đã bán cụ Phan Bội Châu cho mật thám Pháp; đã phá cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Thái Học; đã ngoan ngoãn nghe lệnh Nga-xô đổi tên đảng cộng sản Việt Nam thành đảng cộng sản Đông dương. Và, như ông cũng đã viết, khi ở hang Pắc-bó (Cao bằng), Hồ đã cần mẫn dịch cuốn tóm tắt lịch sử đảng cộng sản Liên-xô, cũng như cuốn Tỉnh ủy bí mật (cũng của Nga-xô) làm tài liệu học tập cho đảng viên cộng sản. Và, hành động Việt gian cụ thể nữa là chưa cầm quyền mà dám đặt tên dòng suối chảy qua Pắc-bó - một bộ phận lãnh thổ của Việt Nam - là Lênin!!!

Như vậy là cái tên của đảng cũng do Nga-xô đặt cho; tài liệu vỡ lòng cho đảng viên học là lịch sử đảng cộng sản Liên-xô - chứ không phải lịch sử Việt Nam - và mọi đường lối, chính sách đều do Nga-xô và Tàu cộng chỉ đạo. Hồ và cái đảng cộng sản của Hồ chỉ biết vâng, dạ, chấp hành, cho dù tổn hại tới sinh mạng, đất đai, tài nguyên thiên nhiên, truyền thống văn hóa dân tộc của Việt Nam v.v…

Thưa ông Bùi Tín,

Bộ mặt Việt gian của Hồ và cái tổ chức gọi là đảng cộng sản Việt Nam đã rõ rành rành như vậy, mà vì động cơ cá nhân, ông không dám "tự phủ định chính mình" nên mới bế tắc la lên rằng: "Tôi chẳng sao lý giải nổi nữa!"(50) Nhưng rồi, con người trung thực của ông lại bắt ông phải thừa nhận một "Mặt thật" mà rất nhiều người chỉ vì quên quá khứ nên không thấy, rằng:

"Vai trò của chính phủ kháng chiến (tức Chính phủ Liên hiệp) là sâu và rộng." Tổ chức của chính phủ rất gọn, nhẹ. Các bộ trưởng, thứ trưởng phần lớn là chuyên gia, trí thức, trong đó số còn ở ngoài đảng, có thực quyền không phải là ít. Đó là các ông Phan Anh, Trần đăng Khoa, Nguyễn Xiển, Nghiêm xuân Yêm, Tạ quang Bửu, Trịnh văn Bính, Lê đình Thám, Hoàng minh Giám, Trần duy Hưng, Phan kế Toại, Lê văn Hiến, Đặng phúc Thông, Nguyễn văn Huyên, Tôn thất Tùng, Trần hữu Tước, Trần công Tường, Trần đại Nghĩa, Hồ đắc Di." (51) Và, ông viết tiếp: "Chính quyền mới ở Nam bộ được tuyển chọn trong những trí thức yêu nước khá xuất sắc. Đó là ông Phạm văn Bạch, chủ tịch ủy ban kháng chiến hành chánh Nam bộ, từng đậu tiến sỹ luật học và cử nhân văn khoa ở Pháp về; bác sỹ Phạm ngọc Thạch tốt nghiệp y khoa Paris; giáo sư toán học Phạm Thiều; giáo sư văn học Ca văn Thỉnh; giáo sư vật lý Đặng minh Trứ được đào tạo ở Pháp; kiến trúc sư Huỳnh tấn Phát; nhà luật học Trần công Tường; Kỷ sư Nguyễn ngọc Nhật và kỹ sư Nguyễn ngọc Bích tốt nghiệp trường Bách khoa Paris; kỹ sư công nghiệp Kha vạng Cân; nhà luật học Phạm ngọc Thuần (anh ruột của đại tá Phạm ngọc Thảo); luật sư Thái văn Lung. Ông Phạm văn Chương, đốc phủ sứ Sài-gòn nổi tiếng về am hiểu luật pháp và thanh liêm cũng tham gia chính quyền mới.(52)

Rồi ông cũng thừa nhận một "Mặt thật" khác, đó là: "Hồi ấy, ở Việt Bắc, cái thế chính trị của anh "Nhân", tức ông Trường Chinh, còn khá là khiêm tốn. Vai trò của Đảng còn chưa sâu, chưa rộng."(53)

Nghĩa là, trước khi Tàu cộng làm chủ lục địa (1949), trước khi Hồ lén lút sang Tàu cộng và Nga-xô để xin chỉ thị của Stalin và Mao, thì như ông nhận định:


- Vai trò của Chính phủ Liên hiệp "là sâu và rộng" (54);

- Vai trò của Đảng (tức cộng sản) "còn chưa sâu, chưa rộng".(55)


Rồi khi Tàu cộng làm chủ lục địa, cuối năm 1950 Hồ lén lút qua gặp Mao và qua Nga-xô gặp Stalin, để đến 1951 cho ra mắt trở lại cái gọi là đảng cộng sản Đông dương dưới một cái tên hiền lành hơn: "đảng Lao động Việt Nam"

Nắm được lực lượng vũ trang rồi, Hồ cho đảng cộng sản, công cụ tay sai của Nga-xô và Tàu cộng tái xuất giang hồ để thi hành đường lối chính trị Việt gian để lái cuộc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thành cuộc xâm lược đỏ bằng:

"Trí, phú, địa, hào

Đào tận gốc, trốc tận rễ"

Chỉ có khác là không nói huỵch toẹt như vậy, mà che đậy bằng những mỹ tự cách mạng!!! Đó là "đấu tranh chính trị" (tức diệt trí thức, sau đó đợt 2 gọi là cách mạng văn hóa tư tưởng, điển hình là vụ Nhân văn - Giai phẩm); "Truy thuế công thương" (tức diệt phú thương, đợt 2 làm năm 1960 gọi là cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh); "giảm tô, giảm tức" (tức là diệt nông dân, địa chủ; đợt 2 gọi là cải cách ruộng đất); và "chấn chỉnh tổ chức", tức diệt hào, các đợt tiếp nối là "chỉnh huấn mùa Xuân" và "ôn nghèo nhớ khổ". Nghĩa là cày lên, bừa lại toàn xã hội!

Một đất nước tồn tại, phát triển độc lập, tự chủ được chính là dựa vào bốn tầng lớp xã hội nói trên. Nay tất cả bị tiêu diệt, bị tha hóa, biến chất thì xã hội còn lại cái gì?

Thưa ông Bùi Tín,


Xã hội chỉ còn lại:


1) Công cụ của đế quốc đỏ Nga-Tàu dùng cai trị xứ thuộc địa đỏ. Đó chính là đảng Việt gian cộng sản.

2) Các tầng lớp nô lệ đỏ. Đó là trí nô, công nô, nông nô và binh nô.

Ngay từ lúc đặt chân tới Nga-xô (1924) Hồ đã tự nguyện làm Việt gian, tay sai của Nga-xô nên lúc chưa nắm được chính quyền đã âm mưu hãm hại những người yêu nước (cụ Phan Bội Châu là một thí dụ, cùng hàng 100 thanh niên khác với gia đình, họ hàng, bạn bè của họ mà Hồ đã qua Lâm đức Thụ, bán cho mật thám thực dân Pháp). Đến khi tham gia vào Chính phủ Liên hiệp, Hồ vẫn tiếp tục hãm hại, vu cáo, bôi nhọ những người yêu nước (như Lý Đông A, Trương Tử Anh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Nguyễn Tường Tam, Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh, Trần Trọng Kim và thậm chí cả Phan văn Hùm, Tạ thu Thâu! Để rồi khi có cơ hội (Tàu cộng làm chủ lục địa cuối 1949), Hồ đã tuân lệnh mẫu quốc đỏ mà thanh trừng, khủng bố, làm thoái hóa toàn bộ nhân sự mà đại đa số không là cộng sản trong Chính phủ Liên hiệp mà ông thừa nhận là chuyên gia, trí thức, đang có vai trò sâu và rộng trong công cuộc lãnh đạo của Chính phủ Kháng chiến.

Với lòng dân lúc đó "tự tay đốt nhà kháng chiến chống Pháp", với sự cộng tác chân thành và hiệu quả của các nhân sỹ, trí thức, đảng phái, tổ chức tôn giáo v.v… Nếu Hồ không cam tâm làm Việt gian, tay sai cho Nga-Tàu, thì Việt Nam chắc chắn thành Hổ, thành Rồng từ lâu, đâu phải mất đất, mất biển cho Tàu cộng; dầu hỏa cho Nga cùng những món nợ è cổ cho các thế hệ sau!!!

Tất cả những sự việc nêu trên ông đều thấy và hiểu rõ ràng, cặn kẽ.

Nhưng, ông còn chưa đủ dũng cảm để thừa nhận rằng:


1) Hồ chí Minh từ đầu tới chân là một tên đại Việt gian;

2) Đảng cộng sản Đông dương trước kia, nay mang tên đảng cộng sản Việt Nam, là một tổ chức Việt gian; xưa là tay sai tự nguyện cho Nga-xô và Tàu cộng; nay là tay sai của Tàu cộng và các thế lực tài phiệt khác.

Chính vì ông đã có 47 năm phục vụ trong cái tổ chức Việt gian đó nên ông không dám gọi đúng tội danh của nó, cho dù ông đã day dứt thốt ra: "Công nhận một lầm lỡ, quả thật không dễ dàng, nhất là khi quả tạ của quá khứ còn quá nặng."(56)

Cho nên ông đã a dua kêu gọi: "Quên Quá Khứ!!! Xóa bỏ hận thù”


Những kẻ kêu gọi quên quá khứ cũng là tác giả của vế thứ hai: xóa bỏ hận thù.

Thưa ông Bùi Tín,

Ông có thấy việc kêu gọi "quên quá khứ, xóa bỏ hận thù" là một điều hoang tưởng, không thực tế và chẳng có ai, chẳng ở đâu thi hành được. Xin lấy ngay trường hợp của ông làm một thí du.

Cả hai cuốn "Hoa xuyên tuyết" và "Mặt thật" của ông đều chủ yếu nói về quá khứ. Gần thì vì sao ông lên đài BBC để phổ biến "Kiến nghị của một công dân"; xa thì nói những chuyện từ thuở cụ thân sinh ra ông lúc hàn vi; rồi chuyện chính phủ của cụ Ngô Đình Diệm "giết những người yêu nước" (chữ nghĩa của ông chỉ những tên khủng bố nằm vùng ở miền Nam Việt Nam, sau hiệp định Genève 1954 về Việt Nam, thi hành chủ trương bạo lực như nghị quyết 15 (khóa 2) của tập đoàn Việt gian cộng sản).

Nói thẳng ruột ngựa ra thì ông cũng như những kẻ kêu gọi quên quá khứ, xóa bỏ hận thù là chỉ muốn một phía thực thi cái điều lẩm cẩm đó mà thôi (chẳng lẽ lại nói là ngu cho chính xác). Cái phía phải thực thi đó chính là nạÏn nhân của cuộc chiến tranh do tập đoàn Việt gian cộng sản tiến hành.

Cái phía phải thực thi đó là nạn nhân của lũ chủ hàng, thành phần thứ ba đã đâm sau lưng những người chống xâm lược mà quan trọng nhất là quân lực Việt Nam Cộng hòa!

Chưa một ai được nghe rằng Nhân dân miền Nam và Nhân dân miền Bắc hận thù nhau để phải quên!

Chưa một ai được nghe rằng nhân dân Việt Nam ở hải ngoại và nhân dân Việt Nam ở trong nước hận thù nhau để phải quên!

Loại trừ những người Việt Nam bị bệnh tâm thần mới không biết rằng ai là tác giả bịa chuyện "đấu tranh giai cấp" để kích động sự hận thù "giả tạo" trong cộng đồng xã hội Việt Nam; kêu gọi "bạo lực cách mạng" để tạo ra hận thù đổ máu trong cộng đồng xã hội Việt Nam; thực thi chính sách ưu đãi giai cấp để phá hoại đoàn kết, hận thù cha truyền con nối trong cộng đồng xã hội Việt Nam; sản xuất ra các cụm từ "dân tề", "dân ngụy" để chia rẽ cộng đồng xã hội Việt Nam

Tác giả những tội ác đó chính là Hồ chí Minh và cái đảng Việt gian cộng sản. Và, ngay trong tổ chức Việt gian cộng sản của chúng, chúng cũng bịa ra "xét lại" và "giáo điều" để tìm cách hạ bệ nhau, tranh nhau độc quyền làm tay sai cho mẫu quốc đỏ (và bây giờ là Tàu cộng và các loại tài phiệt). Chúng bới móc lý lịch ba, bốn đời của nhau; moi móc mọi loại quá khứ từ tư tưởng, ngôn ngữ, sinh hoạt đến tín ngưỡng để kích động, nuôi dưỡng một sự hận thù mù quáng.

Đó là lý do vì sao tên ông là Bùi Thành Tín, vì muốn tránh liên quan với "quan lại phong kiến" phải bỏ cái họ Bùi để chỉ còn Thành Tín. Và, ra hải ngoại một thời gian dài mới hoàn hồn để nhận lại cái họ Bùi mà thành Bùi Tín. Và chắc ông cũng nhớ vì sao Quang Đạm (57) ở báo Nhân dân bị biến mất; bí thư tỉnh ủy Nguyễn từ Thoan lên và xuống cũng như sao chổi; và đại tướng Võ nguyên Giáp của ông thì phụ trách "đặt vòng chống thụ thai" v.v. Khi tranh ăn, chúng moi quá khứ của nhau để hận thù và xóa sinh mạng chính trị của nhau!!!

Tại sao bây giờ tác giả của việc moi quá khứ, kích động hận thù lại quay một trăm tám mươi độ?

Đó là vì, sau khi đảo chính âm thầm Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến, tập đoàn Việt gian cộng sản đã lèo lái cuộc kháng chiến chính nghĩa chống thực dân Pháp thành chiến tranh giành thuộc địa giữa thực dân đỏ Nga-Tàu với thực dân Pháp bằng xương máu của nhân dân Việt Nam. Sau khi chiếm được miền Bắc Việt Nam, chúng đã bần cùng hóa toàn dân, tập trung nhân lực, vật lực, tài lực vào tay tập đoàn Việt gian cộng sản các cấp và lại bắt đầu tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam Cộng Hòa và đặt ách thực dân đỏ lên cả hai miền Bắc và Nam Việt Nam từ 30-4-1975. Sự giao lưu Nam-Bắc đã cho nhân dân Việt Nam ở hai miền nhận diện được đâu là chính, đâu là tà. Và, một cuộc vượt biên tỵ nạn cộng sản xâm lược ở cả hai miền của Việt Nam đã làm chấn động lương tri toàn thế giới.

Cộng đồng người Việt ở hải ngoại hình thành. Quân lực Việt Nam Cộng Hòa thoát thai từ những thành phần ly khai khỏi bàn tay dra-cu-la Hồ chí Minh từ 1948. Đó là lực lượng chống xâm lược đỏ đầu tiên của Việt Nam. Đó là lực lượng duy nhất chống xâm lược: cả thực dân Pháp; cả Việt gian cộng sản, công cụ xâm lược của thực dân đỏ Nga-Tàu; và cả ngay chính quân xâm lược Tàu cộng trong việc bảo vệ hải đảo (1974). Thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa còn ở Việt Nam vẫn bị khốn khổ, phân biệt đối xử, trả thù hèn hạ từ 4-1975 đến nay là gần 30 năm của đời người!!!

Quân lực VNCH đã đổ nhiều máu xương để bảo vệ an toàn, tự do cho nhân dân Việt Nam, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ cho Tổ quốc.

Quân lực VNCH được đào tạo chính qui, nghệ thuật chỉ huy và tác chiến sắc bén và hiệp đồng. Từ sỹ quan đến chiến sỹ đều tận tụy và dũng cảm.

Ấy thế mà lại có ngày quốc hận 30-4-1975!!!(???) Tại sao?

Ngoài nguyên nhân quốc tế ra, lỗi lầm quốc hận không do những người cầm súng mà do những người cầm bút, những người làm chính trị!

Những người cầm súng đã hoàn thành oanh liệt nhiệm vụ trước nhân dân và Tổ quốc. Biết bao nhiêu người đã hy sinh mạng sống; biết bao người đã tuẫn tiết như các anh hùng Nguyễn Khoa Nam, Trần Văn Hai, Lê Nguyên Vỹ, Hồ Ngọc Cẩn, Nguyễn Văn Long, Ngụy Văn Thà, Phạm Phú Quốc; biết bao người giữ khí tiết trong nhà tù của tập đoàn Việt gian cộng sản như trung úy Võ Văn Tưng; người tù kiệt xuất, đại úy Nguyễn Hữu Luyện; người tù bất khuất Lý Tống v.v.

Còn những người làm chính trị? Nhiều kẻ ấu trĩ, sôi thịt như kiểu Hồ hữu Tường (xin treo cờ rũ khi Hồ chết); như Ngô công Đức, Kiều mộng Thu, Dương văn Ba, Nguyễn văn Kim, Nguyễn Khánh, Trần văn Đôn, Nguyễn văn Thiệu, Dương văn Minh v.v…

Đáng buồn nhất là những người cầm bút. Họ đã trốn trách nhiệm cầm súng, tìm cách du học. Khi ở nước ngoài thì tham gia "nhóm sinh viên tả phái", khi về nước thì làm con cua để bàn ngang, "lập thành phần thứ ba" (điển hình là Đoàn viết Hoạt). Nhiều bậc khoa bảng chỉ lo bàn nhăng, bàn cuội (như giáo sư Nguyễn văn Trung, khen chủ nghĩa Marx) mà không chịu truy tìm quá khứ, phân tích hiện tại để chứng minh bộ mặt tay sai cho thực dân đỏ của tập đoàn Việt gian Hồ chí Minh, nêu cao cuộc chiến đấu chính nghĩa chống xâm lược đỏ của Quân lực VNCH. Mơ mơ hồ hồ, hết gọi là cuộc chiến quốc-cộng, rồi lại cuộc chiến ý thức hệ và còn dựng đứng ra cái gọi là nội chiến huynh đệ!!!(???)

Không nhận diện được kẻ thù một cách rõ ràng trắng đen thì cường độ đánh địch không mạnh, hiệu quả đánh địch không đạt.

Chính vì lẫn lộn giữa chiến tranh chống xâm lược với nội chiến huynh đệ nên mới dung túng và nuôi dưỡng dòng nhạc Việt gian Trịnh công Sơn đến mức phải tỵ nạn xâm lược ở hải ngoại rồi mà còn "bào chữa, thoa son" cho Trịnh công Sơn như những cây bút Đặng Tiến, Ngã Hạnh và còn thâu băng, truyền bá dòng nhạc bán nước đó. Cái dòng nhạc đó đã đâm vào biết bao trái tim của chiến binh VNCH!!! Và, Đặng Tiến còn có thể trắng trợn viết về việc chiều 30-4-1975, Trịnh công Sơn ôm đàn lên đài Sài-gòn do Việt gian cộng sản chiếm giữ để hát bài hắn sáng tác chào mừng những người anh em ngụy quân cộng sản xâm lược của hắn, mang tên "Nối vòng tay lớn", rằng: "Thật ra anh có hát hay không hát thì chế độ VNCH cũng tan rã". Ngồi tại Pháp viết câu đó, chắc có một lúc nào đó Đặng Tiến sẽ có thể viết: "Thật ra thống chế Pétain có lập chính phủ thân Hitler hay không thì nước Pháp vẫn bị quân phát-xít Đức chiếm đóng". Nói thật chứ, Đặng Tiến viết câu trên chỉ chứng tỏ đầu óc ngu tối, sau này con cháu Đặng Tiến xấu hổ về ngòi bút của cha, ông. Còn viết câu sau bị Tây bộp tai là cái chắc!


Thưa ông Bùi Tín,

Cho dù hai cuốn "Hoa xuyên tuyết" và "Mặt thật" của ông có đưa ra nhiều hình ảnh về cái gọi là "chủ nghĩa cộng sản" mà Hồ áp dụng ở Việt Nam, nhưng những thực tế đó vẫn chưa làm ông giác ngộ rằng cái gọi là chủ nghĩa cộng sản đã, đang và sẽ chẳng mang lại lợi ích gì cho nhân dân và đất nước Việt Nam. Nó chỉ đem đến cho Việt Nam thân phận chư hầu của Nga-Tàu, hay, nói cho rõ hơn, nó đã khiến Việt Nam thành thuộc địa đỏ một cách tự nguyện.

Nhờ khoác cái áo chủ nghĩa" này nọ mà ngay những người, đã và đang chống cuộc xâm lược đỏ, vẫn chưa gọi đúng tên của nó, nêu đúng tội của nó. Vì thế quần chúng nhân dân Việt Nam, bị mơ hồ theo, hiểu lầm rằng đây là cuộc chiến của hai quan niệm yêu nước, xây dựng nước khác nhau. Cho nên mới gọi là chiến tranh "quốc-cộng", hoặc nói toạc ra là chiến tranh "ý thức hệ" (nghĩa là cộng sản và phi cộng sản hay còn gọi là tư bản); để rồi còn lầm lẫn nặng mà gọi là chiến tranh "huynh đệ"!!!(?)

Nhân dân Việt Nam đã không được cung cấp thông tin đầy đủ và cụ thể để có thể nhận diện được rằng Hồ và cái đảng cộng sản của Hồ đã tự nguyện gia nhập đạo quân xâm lược đỏ. Đó là lý do tại sao mọi đường lối chính sách áp dụng ở Việt Nam và ngay cả các nghị quyết của đảng cộng sản Việt Nam, kể cả nghị quyết của đại hội đảng, đều phải dựa vào các nghị quyết của Nga-xô hoặc Tàu cộng, từ kinh tế, chính trị, quân sự, ngoại giao cho đến văn hóa, giáo dục v.v. mà soạn thảo ra, chứ không phải là dựa trên thực tế nhu cầu và quyền lợi của nhân dân và đất nước Việt Nam!

Nói cho rõ hơn, nghĩa là mọi đường lối chính sách đối nội, đối ngoại do Hồ và đảng cộng sản Việt Nam soạn thảo và thực hiện ở Việt Nam đều nhằm phục vụ cho quyền lợi dài hạn và ngắn hạn của Nga-xô và Tàu cộng. Nghĩa là dù nhân dân Việt Nam phải đói, phải chết; đất đai, sông biển Việt Nam bị mất; tài nguyên thiên nhiên của Việt Nam bị hủy hoại; truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam bị xóa bỏ; lịch sử Việt Nam bị bóp méo, xuyên tạc; uy tín của Việt Nam trên quốc tế bị giảm sút và v.v… đều không quan trọng trong tâm khảm của Hồ và tập đoàn Việt gian cộng sản. Trước đã như vậy. Nay vẫn như vậy. Và nếu bọn chúng còn nắm quyền cai trị Việt Nam thì cũng sẽ vẫn như vậy!

Trong khi đó, ở miền Nam Việt Nam, các chính phủ Ngô đình Diệm, Nguyễn cao Kỳ cho đến Nguyễn văn Thiệu có nhiều khuyết điểm về mặt này mặt nọ, nhưng rõ ràng và chắc chắn là không dựa vào chương trình của các đảng Cộng hòa hay Dân chủ của Mỹ để vạch chính sách. Trong QLVNCH, không ít cố vấn Mỹ bị ăn đòn chứ chưa bao giờ có chuyện như "Triết cố vấn, Triệu cố vấn hay Vương cố vấn" được từ Hồ cho đến Trường Chinh, Hoàng quốc Việt v.v. khúm núm tuân phục một cách tuyệt đối! Và, về công khai trước dân, chưa ai nghe các vị đó bảo nhân dân Việt Nam gọi các lãnh đạo của Mỹ là "Cố" như Hồ, từ lễ đài Ba-đình bảo nhân dân Việt Nam "hoan hô cố Vorochilov"(58). Các đảng phái ở miền Nam Việt Nam, chưa có đảng nào lấy cờ Mỹ hoặc cờ của nước nào đó làm đảng kỳ như đảng cộng sản của Hồ lấy cờ Nga-xô làm đảng kỳ!!!

Những thực tế đó đã chứng minh rằng hoàn toàn không có cái điều, mà từ lâu nhân dân của cả hai miền Nam và Bắc Việt Nam, gọi là hai cách yêu nước khác nhau - một theo kiểu cộng sản và một theo kiểu quốc gia. Sự thật rành rành là:


* Kiểu cộng sản là bán nước, nô lệ của Nga-xô và Tàu cộng (bây giờ là Tàu cộng và các loại tài phiệt).

* Kiểu quốc gia là chống xâm lược đỏ.

Cần ghi nhớ rằng, kể từ khi Hồ cướp được quyền quản lý lực lượng vũ trang, đổi danh xưng từ Quân đội Quốc gia thành "quân đội nhân dân"; xóa bỏ tôn chỉ của lực lượng vũ trang, khi còn do Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến lãnh đạo, là trung với nước, hiếu với dân, để đưa ra tôn chỉ mới cho quân đội nhân dân là trung với đảng, thì thực tế lực lượng vũ trang đã thoái hóa thành ngụy quân. Đó là đoàn quân đánh thuê cho Nga-xô và Tàu cộng. Chúng mang hình hài Việt Nam, nhưng chúng là tụi vô tổ quốc, y hệt lính Lê dương của thực dân Pháp vậy.

Tuân lệnh Nga-xô và Tàu cộng, Hồ dựa vào họng súng của ngụy quân, dựa vào tổ chức Việt gian mang tên đảng Lao động Việt Nam, Hồ thông qua các phong trào "đấu tố chính trị", "cải cách ruộng đất", "trăm hoa đua nở", "cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh", "chấn chỉnh tổ chức" để đảo chính âm thầm Chính phủ Liên hiệp. Hồ và cái đảng Việt gian của hắn đã trấn áp, hạ nhục, khống chế tiến tới thuần hóa và thoái hóa gần như trọn vẹn 100% những trí thức, chuyên gia không cộng sản, những nhân sỹ yêu nước, lãnh đạo tinh thần ở mọi cấp chính quyền, để lưu nhiệm họ sử dụng che mắt cả quốc tế lẫn nhân dân cả nước Việt Nam về bộ mặt bán nước, tay sai của thực dân đỏ Nga-Tàu của Hồ và bè lũ. Những nhân sỹ, trí thức, chuyên gia đó chỉ còn tồn tại theo kiểu "Hồn Trương Ba da Hàng thịt" làm lá chắn chính nghĩa cho Hồ và tập đoàn Việt gian của hắn lợi dụng thực thi các mục tiêu bành trướng của tụi bá quyền đỏ Nga-xô và Tàu cộng! Họ thành trí nô, cán nô các loại.

Thưa ông Bùi Tín,

Do ông chưa nhận thức được "Mặt thật" này nên ông không lý giải nổi tại sao "quân đội nhân dân" lại có thể tàn sát nhân dân ở Huế (1968), pháo kích vào các trường học, chợ búa, bệnh viện, nhà thờ, đền chùa v.v. đàn áp đồng bào vùng cao, tàn sát giáo dân, tham gia "cải cách ruộng đất" và Hồ thì hạ quyết tâm "giải phóng miền Nam dù có phải đốt cả dãy Trường Sơn.". Tại sao những văn nghệ sỹ, trí thức một thời oanh liệt như Chế lan Viên, Xuân Diệu, Cù huy Cận, Thế Lữ, Lưu trọng Lư, Hoài Thanh v.v… lại trở thành hèn hạ, thơ văn toàn thứ kêu gọi "cắt đầu, mổ bụng"; Nguyễn đình Thi, Huyền Kiêu, Nguyễn đỗ Cung, Nguyễn xuân Khoát v.v. những ngày đầu kháng chiến chống thực dân Pháp ra sao, để rồi từ những năm 1952-53 trở đi hoàn toàn thành một con người khác. Rồi Phạm văn Bạch, Huỳnh văn Tiểng, Nguyễn văn Huyên, Trần duy Hưng, Nghiêm xuân Yêm, Nguyễn Xiển, Bùi Kỷ, Hồ đắc Dzi, Nguyễn tấn gi Trọng, Vũ đình Hòe, Phan Anh có thể nói là tất tần tật các trí thức, chuyên gia nổi tiếng cả trong và ngoài Việt Nam đều trở thành người nhộng!!! (nghĩa là nằm ngoan ngoãn trong kén). Và, những loại "đá cá lăn dưa" ào ào nhảy lên sân khấu chính trị, văn học nghệ thuật, khoa học kỹ thuật như Trần quốc Hoàn (tên trộm cắp ở quê đẻ), Trần danh Tuyên, Nguyễn công Hòa, Nguyễn Bắc, Mai Vi, Phạm Hồng, Hồ Trúc, Vũ đức Phúc, Vũ Khiêu, Phạm đình Sáu, Lê Điền, Hà xuân Trường, Ngô trọng Tỉnh, Hồng xích Tâm, Cù thị Hậu, Nguyễn thị Bình, Nguyễn thị Hằng, Đỗ Mười, Lê đức Anh, Vũ đình Liệu, Bùi huy Đáp, Vũ Quang, Lê khả Phiêu, Nguyễn văn An, Trương thị Mỹ Hoa và v.v.

Nếu vì dân, vì nước, vì tương lai tốt đẹp của các thế hệ Việt Nam thì có đâu lại thuần hóa, thoái hóa các chuyên gia, trí thức, biến họ thành con vẹt, con nhộng và tất cả phải vô liêm sỉ hóa mới cho tồn tại!

Chính vì cái chỗ đứng của ông với 47 năm phục vụ tận tụy cho cái tổ chức Việt gian cộng sản ấy nên ông cố thanh minh, bào chữa cho chúng và cũng là thanh minh và bào chữa cho cá nhân mình, khi ông hạ bút cố tình lập luận rằng: "Phần lớn đi làm chính trị là nhằm giành lại độc lập cho đất nước, tiến bộ cho xã hội. Họ chịu đựng những hy sinh, tổn thất trong đấu tranh, có khi bị bắt bớ, tù đày. Họ nhằm vào những giá trị mà họ tin tưởng, theo đường lối và biện pháp mà họ cho là đúng đắn. Họ lại phải tính đến những thế lực quốc tế, đến cuộc đấu tranh giữa những thế lực quốc tế ấy ở trong khu vực và trên thế giới. Và họ tìm chỗ dựa, tìm sự giúp đỡ và ủng hộ của bên này hay của bên kia, trong cuộc đấu tranh chính trị mà họ dựng lên hay tham gia".(59)

Ông đi một "quả rào trước đón sau" như vậy để rồi lật bài, rằng:

"Như vậy cho nên cần quan niệm một cách khách quan rằng: ở bên này hay ở bên kia, trong tổ chức này hay tổ chức khác, những người hoạt động chính trị trong thời kỳ lịch sử vừa qua đã có những cách yêu nước khác nhau, dẫn đến đường lối và biện pháp khác nhau. Trong đấu tranh quyết liệt đối địch nhau, họ coi nhau là kẻ thù và có những nhận định quá đáng về nhau. Nay lịch sử đã sang trang, cần nhìn lại với đôi mắt tỉnh táo, quý trọng nhau ở động cơ yêu nước, có thể phê phán nhau về đường lối và phương pháp, không nên giữ mãi hận thù kiểu sống mái và triệt tiêu nhau."(60)


Trong hai đoạn văn trên của ông, chúng tôi thấy ông đã lẫn lộn rất trầm trọng khi viết rằng: "Họ nhằm vào những giá trị mà họ tin tưởng, theo đường lối và biện pháp mà họ cho là đúng đắn."(61)

Viết như ông thì xin hỏi "những giá trị mà bọn Khơ-me đỏ đã tin tưởng, theo đường lối và biện pháp mà tụi Khơ-me đỏ đã cho là đúng đắn" có nên phê phán không?

Và, chính ông khi đề cập đến "cải cách ruộng đất", "trăm hoa đua nở" của Hồ và đảng cộng sản của hắn, ông cũng phải phê phán là sai. Chỉ có điều ông cố nhắm mắt chạy tội cho bọn chúng bằng cách mỉa mai rằng các "Triết cố vấn, Triệu cố vấn, Vương cố vấn" xúi dại nên Hồ và cái đảng cộng sản của hắn chỉ có tội là nghe cố vấn xúi dại nên cả bọn đua nhau ăn!!! Cái giá trị mà Hồ và bè lũ tin tưởng rằng cưỡng bức nông dân "vợ tố chồng, con tố cha, con dâu tố bố mẹ chồng, anh chị em đấu tố nhau."(62) là biện pháp làm cho xã hội Việt Nam tiến bộ chăng? Hoặc như ông đã viết: "Sùng bái" mặt trời phương đông, nể sợ "thiên triều" Bắc kinh, ông Hồ đã truyền cho những người lãnh đạo khác ở quanh ông ta, cho cả đảng cộng sản (chúng tôi nhấn mạnh) một thái độ thụ động vô lý, mất hết khả năng phản kháng và tự vệ (chúng tôi nhấn mạnh)" (63). Đấy là biện pháp giành độc lập chăng?

Chúng tôi xin trích ra đây cái mâu thuẫn của ông khi đề cập đến mục tiêu: "nhằm giành lại độc lập cho đất nước, tiến bộ xã hội của Hồ và tay chân khi biện pháp của chúng là cuối 1951, cho đảng cộng sản hoạt động trở lại với "Điều lệ đảng đã ghi lấy tư tưởng Mao trạch Đông làm nền tảng"(64), vì thế "dù có điều gì các học trò Việt Nam cảm thấy là lạ, kỳ kỳ, thậm chí vô lý. Cũng cứ phải cúi đầu vâng dạ mà chấp hành cho sớm."(65) (chúng tôi nhấn mạnh).

Cái điều "là lạ, kỳ kỳ, thậm chí vô lý " đó chính là sự tàn sát nhân dân Việt Nam vô tội một cách cực kỳ dã man; tàn phá nếp sống truyền thống của Việt Nam; đảo lộn trật tự xã hội, tạo ra sự hận thù máu giữa cộng đồng nhân dân Việt Nam; phá hoại sản xuất của Việt Nam; tiêu diệt những thành phần nồng cốt và ưu tú của xã hội Việt Nam. Vậy mà, những người "làm chính trị nhằm giành lại độc lập cho đất nước, tiến bộ cho xã hội" đó, do ông nêu đích danh: "Trường Chinh, Hoàng quốc Việt, Lê văn Lương, Hồ viết Thắng"(66) lại dùng biện pháp "là lạ, kỳ kỳ, thậm chí vô lý."!!!

Những điều "là lạ, kỳ kỳ, thậm chí vô lý." do các phái viên của Mao ra lệnh, theo ông ghi lại lời của Hoàng quốc Việt nói với ông rằng: "Đến bác Hồ biết là không đúng cũng không dám nói với họ!"(67) Thế thì độc lập ở chỗ nào?

Và, ông nhân xét về Hồ như sau: "Ông đã để mặc cho nước của ông, đảng của ông bị một số kẻ nước ngoài lũng đoạn, lộng hành. Trên thực tế, ông đã từ nhiệm vị trí, trách nhiệm của mình."(68) Như thế không gọi là tay sai ngoại bang là gì!!!

Sự việc ông viết ở trên về Hồ chí Minh rõ ràng là hoàn toàn trái ngược với mục tiêu "giành lại độc lập cho đất nước, tiến bộ cho xã hội", vậy mà ông chỉ dám kết luận "Đây là thái độ vô trách nhiệm."(69) Ông Bùi Tín ạ, ông đã cố tình lầm! Thái độ đó của Hồ là thái độ của một tên Việt gian, lưu manh nhất trong lịch sử Việt Nam. Việt gian một cách "tự nguyện" và lưu manh về bản chất!

Trong hai cuốn sách của ông đều nói đến các nước Đông-âu, chư hầu của Nga-xô. Xin lưu ý với ông rằng, các nước đó xây dựng chủ nghĩa xã hội bằng xích xe tăng của Nga-xô, sau thế chiến thứ hai. Nghĩa là bị cưỡng bức làm thuộc địa đỏ.

Còn Việt Nam thì hoàn toàn ngược lại. Hồ đã từng bước đảo chánh âm thầm Chính phủ Liên hiệp đa đảng; xóa bỏ Quốc hội I và hiến pháp 1946; làm ngược lại Tuyên ngôn Độc lập 2-9-1945; tình nguyện làm tay sai cho Nga-Tàu; Việt gian hóa toàn đảng cộng sản Đông dương; lê dương hóa lực lượng vũ trang; bần cùng hóa toàn dân Việt Nam; biến Việt Nam thành tiền đồn bảo vệ Nga-xô, Tàu cộng và thực hiện chiến lược bành trướng của Nga-Tàu.

Bằng chứng rõ ràng nhất là sau nhiều năm làm gián điệp cho Nga-xô ở Đông-nam-á, Hồ trở về Việt Nam, thì việc đầu tiên là đặt tên một bộ phận lãnh thổ Việt Nam là Lênin, và khi chết di chúc để lại vẫn kêu gọi bảo vệ Nga-xô!

Những điều đó ông đều biết hết. Chẳng những thế, ông còn góp phần vạch trần ra trong hai cuốn "Hoa xuyên tuyết" và "Mặt thật". Điều làm chúng tôi tiếc cho ông là đã lột xác cộng sản để làm một người yêu nước, nhưng ông lột xác chưa trọn vẹn, như con ve sầu sai lầm khi thoát xác, bị quăn hai cánh nên vẫn bám lấy gốc cây, không tung cánh bay được. Đó là ông viết một câu rất ngô nghê - kiểu thật thà lái cá giống - rằng: "Nay lịch sử đã sang trang, cần nhìn lại với đôi mắt tỉnh táo, quý trọng nhau ở động cơ yêu nước, có thể phê phán nhau về đường lối và phương pháp, không nên giữ mãi hận thù kiểu sống mái và triệt tiêu nhau."(70)

Phần 6- Những Tên Đặc Công Đỏ Việt Thường- Nam Nhân Lý Tuấn Phần 6




Những tên đặc công đỏ

trong phong trào

đòi dân chủ cho Việt Nam


Việt Thường – Nam Nhân – Lý Tuấn

Bài 6

Ai triệt tiêu và ai bị triệt tiêu?

Tạm thời không nói đến những sự việc xảy ra ở Việt Nam trước 30-4-1975. Chỉ nêu những nét lớn từ 30-4-1975 đến nay để ông Bùi Tín xem ai triệt tiêu và ai bị triệt tiêu?

Lũ ngụy quân cộng sản, được trung tướng phó chính ủy Trần Độ tẩy não, giáo dục để "trung với đảng" khi chiếm xong Việt Nam Cộng Hòa, cùng cán bộ mọi ngành, mọi cấp đã hành xử ra sao, thì chính ông đã phải thốt ra: "Việc giải phóng được thực hiện gần như một sự chiếm đóng, một cuộc thôn tính!"(71)

Ông đã nhận xét gần đúng với sự thật. Bởi đó chính là sự chiếm đóng, cuộc thôn tính của chủ nghĩa thực dân đỏ lên nước Việt Nam Cộng Hòa, chứ không phải như ông viết là: "gần như"!

Lũ thái thú đỏ đã đeo mặt nạ "hòa giải - hòa hợp", cầm chiêu bài "đóng tiền ăn học tập 10 ngày" để lừa những người "mơ hồ về chiến tranh huynh đệ", tự đưa thân vào vòng lao tù. Và, hình ảnh của "sự hòa giải - hòa hợp dân tộc để xây dựng đất nước" đó đã được ông kể lại như sau: "Từ hồi năm 1975, tôi gặp hơn 40 viên tướng Sài-gòn đi cải tạo, gặp gần 100 nhân viên cấp cao ra trình diện, và sau đó tôi đi khắp các trại ở Long Thành, Thủ Đức, Bà Rịa, Long Khánh, Tây Ninh, rồi ra Bắc đi lên tận vùng Tân Phú ở Tuyên Quang. Tôi băn khoăn không thể lý giải được rằng: người cộng sản thường tự nhận là con người nhân ái, sao lại có thể chủ trương đày ải hàng loạt, hàng chục vạn con người trong cảnh thực sự là tù đày cực nhọc đến thế này? ở trại Thủ Đức, các chị em nữ sỹ quan nằm la liệt trên sàn xi-măng, trải ni-lông mỏng mà không có chiếu, có màn ở Tuyên Quang, có nhiều người bị giam tuổi 68, 70, 78 tuổi, ăn không đủ chất, thiếu sinh tố, mù mắt, suy kiệt. Để làm gì? Họ có thật sự được cải tạo, hiểu ra lý lẽ về cuộc chiến tranh này, hay họ thêm nản lòng và cay đắng với chế độ mới? Tôi đã xem tài liệu học tập cho các viên tướng Sài-gòn và bài chuẩn bị lên lớp của người quản giáo ít tuổi. Tôi thấy rõ việc dạy và học đều là miễn cưỡng, hình thức, không tạo được kết quả mong muốn. Tôi đã nói lên chính kiến của mình cho ông thứ trưởng Bộ nội vụ Viễn Chi, đại diện của Bộ ở miền Nam. Ông ta chỉ cười nhạt và im lặng."(72)


Không phải là chúng tôi, mà chính nụ cười nhạt và sự im lặng của tên thiếu tướng thứ trưởng công an Viễn Chi, đã chứng minh rằng, không phải từ năm 1975 ấy, mà cho đến bây giờ ông vẫn còn mơ hồ, chưa đủ tỉnh táo đầu óc để nhận diện xem cái tổ chức cộng sản mà ông có gần 50 năm tham gia là cái gì? Cho nên ông ra sức bênh vực nó rằng "đấy cũng là một cách yêu nước khác nhau, dẫn đến đường lối và biện pháp khác nhau cần nhìn lại với đôi mắt tỉnh táo, quý trọng nhau ở động cơ yêu nước."(73)

Viễn Chi và ông là "đồng chí" với nhau. Ông mới chỉ nói lên chính kiến của ông mà đã bị Viễn Chi "cười nhạt và im lặng", nghĩa là hắn khinh ông ra mặt. Vậy mà, ra hải ngoại, ông luôn kêu gào những nạn nhân của tên Viễn Chi và cái đảng Việt gian cộng sản của hắn nên "quý trọng nhau ở động cơ yêu nước" ấy của chúng (vì ông khẳng định cộng sản cũng yêu nước theo cách của chúng)!!! Chỉ có ông và những con đà điểu rúc đầu vào cát mới còn tin và quý cách yêu nước của Hồ và cái đảng cộng sản của hắn. Vì thế tên Viễn Chi mới cười nhạt và im lặng vì biết ông đang mộng du, không biết cái nước mà chúng yêu là Nga-xô, không phải Việt Nam!!!

Giống như Trần Độ đã giáo dục, cho quân ngụy dưới quyền, yêu nước Nga-xô, nên chúng mới khoan khoái pháo kích vào trường học, chợ búa, bệnh viện; dùng cán cuốc đập chết và đâm lê vào nhân dân ở Huế, cả phụ nữ có thai, cụ già, trẻ em; tàn sát đồng bào vùng cao, các làng công giáo và giúp tụi công an ngụy quyền cộng sản xâm lược đem đầy nhân dân Việt Nam Cộng Hòa ở các thành thị đi "kinh tế mới", mà thực chất là đưa đi đầy ải cho chết dần chết mòn.

Xin đưa thêm một dẫn chứng nữa về cách yêu nước, của tập đoàn Việt gian cộng sản, mà chính ông đã viết ra như sau: "Chính quyền đã tự mình phạm pháp khi chủ trương thu vàng và tổ chức di tản, "xuất khẩu những công dân loại 2", một chủ trương bán chính thức mà quốc hội không hề được biết. Đây là một vụ tham nhũng cực lớn, tàn bạo, đầy máu và nước mắt, một vụ phạm pháp ô nhục của hệ thống chính quyền, đày đọa nhân dân mình không ai có thể bênh vực và lấp liếm được."(74)

Đoạn văn trên khiến chúng tôi nghĩ ông rào trước đón sau rằng ông viết với “cách nhìn có trách nhiệm, khách quan, theo tinh thần phê phán”(75) chỉ nhằm huyễn hoặc người đọc thiếu thông tin hoặc thiếu tỉnh táo.

Thứ nhất, ông cố tình bào chữa cho tập đoàn Việt gian cộng sản trong vụ tổ chức vượt biên bán chính thức, bịa ra cái tội danh mơ hồ là "xuất khẩu những công dân loại 2". Chúng bán bến bãi, bán tàu không an toàn, thu vàng của dân và đẩy họ ra biển cho chết. Cả trong và ngoài Việt Nam đều biết rõ việc đó, nhất là qua vụ tranh ăn nội bộ để phải đưa ra thanh toán nhau, như vụ tên thiếu tướng Mười Vân, giám đốc công an ngụy quyền cộng sản ở Đồng Nai. Vậy mà ông dám sáng tác ra cụm từ "xuất khẩu những công dân loại 2".

Thứ hai, ông cố tình ngây thơ cụ để kết tội "chính quyền" (tức chính quyền cộng sản) mà không dám nói đích danh rằng bộ chính trị Việt gian cộng sản là kẻ ra lệnh tổ chức vượt biên bán chính thức.

Thứ ba, ông giả vờ làm như không biết rằng cái gọi là "quốc hội", từ sau 1954, tức là khi "cụ thân sinh ra ông" còn làm việc ở quốc hội, thì tất cả là bù nhìn rồi! Và cho đến bây giờ (2003) cũng vẫn là bù nhìn. Chỗ khác nhau là, trước đây bù nhìn mặc áo đại cán, còn bây giờ bù nhìn đeo cà-vạt!

Chính ông, muốn "bênh vực và lấp liếm" cho tập đoàn Việt gian cộng sản mà cũng không được, nên phải nhận rằng đó là phạm pháp. Vậy thì, trong vụ "Tổ chức vượt biên bán chính thức này", ông làm ơn chứng minh xem "động cơ yêu nước" của tập đoàn Việt gian cộng sản là ở điểm nào, và biện pháp giết dân, trấn lột như vậy gọi là gì?

Toàn những chuyện "trời sầu đất thảm", chưa từng xảy ra trong lịch sử Việt Nam, do ông tự nguyện viết ra. Vậy mà ông vẫn cố tình bịa đặt có một kiểu yêu nước của cộng sản. Cụ Phan Khôi, nếu sống trở lại, chắc cũng phải nhìn ông mà thở dài: "Thưa nhà báo Thành Tín, bạn đã cố tình tôi biết nói làm sao?"!(?)

Chính vì sự cố tình đó của ông, nên chúng tôi xin lưu ý để ông biết rằng:

1- Mỹ rút khỏi Việt Nam Cộng Hòa từ 1973, nhưng ngụy quân cộng sản vẫn tiếp tục thực thi bành trướng bá quyền đỏ, được vạch ra từ 1930, trong cương lĩnh chính trị của cái gọi là đảng cộng sản Đông dương. Diễn biến ra sao, "nhân dân miền Nam vùng lên lật đổ ngụy quyền" như con Tú Bà Phan thúy Thanh ỏn ẻn trong các cuộc họp báo hay VNCH bị đoàn lê-dương Việt gian cộng sản vũ trang xâm lược như tên tướng lê-dương Văn tiến Dũng, thú nhận trong cuốn "Một mùa xuân đại thắng", xin tùy ông lựa chọn.

2- Tập đoàn Việt gian cộng sản dùng chiêu bài "hòa giải – hòa hợp" để lừa quân, cán, chính của VNCH đi "học tập 10 ngày" và đày ải tất cả trong các cái gọi là trại cải tạo, mà ông phải thừa nhận đó là "nhà tù" thực thụ. Chúng đày ải cho chết cả thân xác lẫn tinh thần. Cái gọi là tài liệu học tập mà ông phải thừa nhận là "hình thức, không tạo được kết quả mong muốn" lại được lên lớp bằng "người quản giáo ít tuổi" (ông chưa dám nói thẳng hai tiếng: ngu dốt). Khi ông nêu ý kiến đó với tên Viễn Chi, thứ trưởng Bộ nội vụ, đại diện bộ ở miền Nam thì hắn "cười nhạt và im lặng". Chúng tôi đã có nói, thái độ đó của Viễn Chi là hắn khinh thường ông ra mặt. Tại vì hắn nghĩ hoặc ông khờ khạo hoặc giả đò ngây thơ. Ông quên rằng, ở miền Bắc trước kia, Hồ đã dùng tổ chức Việt gian cộng sản và công cụ chuyên chính (lính và công an) là lực lượng vũ trang với tôn chỉ trung với đảng, để triệt tiêu các tầng lớp nhân dân ưu tú - cái khung của xã hội Việt Nam - nhằm thiết lập có hiệu quả bộ máy cai trị của chủ nghĩa thực dân đỏ Nga-Tàu. Cho nên sau ngày 30-4-1975, tụi thừa kế Hồ - những học trò xuất sắc của hắn - cũng đi lại đúng bài bản của Hồ là triệt tiêu mọi trở ngại cho việc thiết lập và hoàn chỉnh bộ máy cai trị thực dân đỏ. Bởi vậy, chúng cũng vẫn lập lại cái công việc từ ngày tổ chức Việt gian cộng sản của chúng ra đời, năm 1930, là:

"Trí, phú, địa, hào

Đào tận gốc, trốc tận rễ"

bằng cho đi cải tạo; bằng đuổi đi kinh tế mới; bằng tịch thu tài sản; bằng quản thúc tại địa phương và bằng "tổ chức vượt biên bán chính thức."

Điểm đặc biệt, khác hơn hồi sau 1954, là chúng phải đối phó với lực lượng cảnh sát VNCH; văn nghệ sỹ, báo chí; và nhất là QLVNCH.

Bằng chứng cụ thể của lịch sử đã chứng minh rằng, ngay khi có dấu hiệu Hồ chí Minh phản bội lại dân tộc Việt Nam, phản bội lại sự "hòa giải - hòa hợp dân tộc" để cho ra đời Quốc hội I và Chính phủ Liên hiệp của nhiều đảng phái, bằng cách qua tay bọn Lê Giản, Trần Hiệu, Chu đình Xương, dựng ra vụ án "Ôn như Hầu" để bôi nhọ VNQDĐ; cử cố vấn tối cao của Chính phủ Liên hiệp - Vĩnh Thụy, tức cựu hoàng Bảo Đại - qua Trùng Khánh gặp Tưởng giới Thạch rồi cắt tiếp tế, cũng như tàn sát các sỹ quan trường lục quân VNQDĐ ở Yên Bái v.v… thì đã có nhiều người ly khai để chống lại Hồ bằng cả chính trị lẫn vũ trang. Cái lực lượng vũ trang đó chính là tiền thân của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, lực lượng duy nhất đã đem máu xương, tuổi trẻ, hạnh phúc gia đình để chiến đấu chống cuộc xâm lăng của cả thực dân "xanh" lẫn thực dân đỏ.

Quân lực Việt Nam Cộng hòa là trở lực lớn nhất và có tính quyết định đối với việc thiết lập bộ máy cai trị của thực dân đỏ trên cả hai miền Nam-Bắc Việt Nam. Vì thế, tập đoàn Việt gian cộng sản cố tình triệt tiêu Quân lực Việt Nam Cộng Hòa bằng kéo dài ngày tháng mà chúng đội cho cái mỹ tự "học tập cải tạo". Nhiều người phải bỏ thân lại nơi rừng rú ở các trại địa ngục trần gian đó. Số được trả lại về đời thì tất cả đều đã bỏ lại tuổi trẻ, sức khỏe, lòng kiêu hãnh - vì đa số cho rằng bị bại trận - để hầu hết bị rớm máu tâm hồn. Tình hình trong và ngoài nước khiến tập đoàn Việt gian cộng sản không thể "chôn sống" được hết những người bị cải tạo nên chúng triệt tiêu sức khỏe, tuổi đời. Về mặt tinh thần, chúng bỏ đói, tra tấn con tim bằng lo lắng cho vợ con, cha mẹ, để cho đồng đội hàng ngày chỉ nhìn thấy "mặt yếu kém" của nhau, khiến lòng tự tin, tuân phục giảm sút. Nghĩa là bị triệt tiêu về tinh thần, khí phách quân nhân.

Chúng dùng lũ "ranh con vô học, vô giáo dục" làm cái gọi là "quản giáo" để dạy chính trị cho những người mà tư cách và kiến thức tổng quát đều gấp ngàn lần loại thầy của chúng như Trần quốc Hoàn hay Trần Độ, Chu huy Mân, Đỗ Mười, Lê khả Phiêu. Mục đích này của chúng nhằm hạ nhục những người bị bắt đi cải tạo mà thôi. Đó là cách chúng đã thực thi trong các cái gọi là "đấu tố chính trị", "rèn cán, chỉnh quân", "chỉnh huấn" từ 1950-51 trở đi để trấn áp, thuần hóa tiến tới thoái hóa toàn bộ các nhân sỹ, chuyên gia, trí thức đã tham gia trong chính phủ và các cấp chính quyền địa phương thời của Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến (chống thực dân Pháp). Nghĩa là tạo ra loại người nhộng.

Cùng với Quân Lực Việt Nam Công Hòa, các người làm chính trị, các văn nghệ sỹ, trí thức, nhà báo cũng chung số phận. Đặc biệt, với số này chúng đã "cấy sinh tử phù" với những ai đó mất tinh thần, để khi về đời sẽ "tự trung hòa" ngòi bút của mình hoặc khéo léo uốn ngòi bút theo kiểu "thành phần thứ ba" xưa kia, nghĩa là một kiểu yêu nước mơ hồ, một lập trường "ba phải": úm ba la tất cả đều sai. Nghĩa là tội phạm sai mà nạn nhân cũng sai luôn...!

3- Tập đoàn Việt gian cộng sản dùng chiêu bài "duy trì 5 thành phần kinh tế" để níu chân các nhà công thương của Việt Nam Cộng Hòa cho chúng kịp chuẩn bị chu đáo kế hoạch bần cùng hóa thành thị miền Nam. Người thành thị bị đuổi đi cái gọi là kinh tế mới.

4- Cuối cùng, chúng bần cùng hóa nông thôn miền Nam bằng hợp tác hóa và ruộng đất thuộc sở hữu nhà nước, nghĩa là thuộc sở hữu của tập đoàn chóp bu Việt gian cộng sản.

Chúng đánh vào tôn giáo qua việc cải tạo thành thị và nông thôn. Đồng thời bỏ tù khéo léo lực lượng thanh niên của Việt Nam Cộng Hòa bằng cách đưa họ vào cái gọi là "Thanh niên xung phong" và đưa vào lực lượng vũ trang làm nhiệm vụ ở nước ngoài. Cụ thể là đi chết ở chiến trường Căm-bốt.

5- Ngay từ lúc bước vào đến Huế, nghĩa là trước 30-4-1975, đoàn quân lê đương Việt gian cộng sản đã khuân hàng hóa ào ào về Bắc. Và, sau 30-4-1975 thì tất cả các ngành, các bộ, cả trung ương và địa phương miền Bắc Việt Nam, của ngụy quyền cộng sản và đảng Việt gian cộng sản đua nhau vào vơ vét hàng hóa của miền Nam. Lớn thì xe hơi, máy móc; gạo thóc, đường sữa; nhỏ thì từ bao mỳ ăn liền cho đến bóng bay cho trẻ em; đồ điện tử, vàng, hạt xoàn v.v… Chúng gỡ cả dụng cụ y tế ở các bệnh viện; đồ dùng giảng dạy ở các trường của Việt Nam Cộng Hòa kìn kìn chở ra Bắc bằng cả đường hàng không, đường bộ và đường thủỵ

Các thái thú Nga-Tàu cũng cho nhân viên vào vơ vét mọi mặt hàng hóa của Việt Nam Cộng Hòa chở về nước. Tàu cộng cho tàu Hồng Kỳ vào cảng Đà-nẳng; còn Nga-xô thì mỗi tuần có 2 chuyến bay của Aeroflot chở hàng điện tử về Nga.

Đồng thời, lũ xâm lược đỏ bắt đầu chở tù ra Bắc.

Cảnh tượng đó diễn ra công khai, cho nên một nhà báo loại gạo cội như ông không thể không lộ ra chút ít trong 2 cuốn "Hoa xuyên tuyết" và "Mặt thật". Chỉ có điều ông không dám so sánh để thấy nó còn tàn bạo và kinh hoàng gấp hàng tỷ lần thời giặc Minh bên Tàu khi giải Nguyễn Phi Khanh (thân phụ của Nguyễn Trãi). Vì, như ông đọc sử thì thấy Nguyễn Phi Khanh còn được anh em Nguyễn Trãi đi theo hầu hạ và dù Nguyễn Trãi là một vị quan của nhà Hồ nhưng đâu có bị "đi cải tạo"! Còn số phận quân, cán, chính của Việt Nam Cộng Hòa bị đưa ra thượng du miền Bắc, vợ con đều không hay biết; bị còng và đối xử còn tệ hơn chở thú vật. Không ít người đã chết khi bị vận chuyển ra Bắc!!!

Vậy là "giải phóng" hay "xâm lược"???

và Ai triệt tiêu và ai bị triệt tiêu???


Chính vì thế mà tập đoàn Việt gian cộng sản mới đánh cồng cho lũ ma trơi của chúng hú lên "quên quá khứ, xóa bỏ hận thù"!

Sau 132 năm Algeria bị thực dân Pháp đô hộ, cuối cùng đã giành được độc lập. Từ đó đến nay vừa tròn 40 năm. Lần đầu tiên một tổng thống của Pháp đã chính thức viếng thăm Algeria là Jacques Chirac. Ngày 02/03/2003 vừa qua, ông ta có nói với báo giới Algeria rằng: "Cuộc chiến tranh Algeria đã để lại một khoảng thời gian đau lòng trong lịch sử chung của chúng ta mà chúng ta không thể và chúng ta cũng không được quên".

Ông đang sống tại Pháp. Cuốn "Mặt thật" của ông đã cho dịch sang tiếng Pháp với lời giới thiệu của một nhà báo Pháp, cũng có tên tuổi. Chúng tôi xin trích câu nói trên của đương kim tổng thống Pháp - Jacques Chirac - để ông suy nghĩ thêm về "món thịt bò hầm lá ngón"(76) có tên quên quá khứ, xóa bỏ hận thù mà ông đang cổ võ hết mình, cũng như lời khuyên "nên quý trọng động cơ yêu nước" (hay bán nước) của tập đoàn Việt gian cộng sản!!! Thử hỏi rằng, từ những năm tháng Hồ chí Minh còn làm gián điệp cho Nga-xô ở Đông-nam-á, hắn có "quý động cơ yêu nước" của cụ Phan Bội Châu không mà hắn bán cụ Phan cho mật thám Pháp?

Hắn có "quý động cơ yêu nước" của cụ Phan Chu Trinh không, là người đã dìu dắt hắn khi còn ngu ngơ đến đất Pháp?

Hắn có "quý động cơ yêu nước" của anh hùng Nguyễn Thái Học không, mà phá cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Thái Học. Và khi tiếm được quyền thống trị, cả hắn cho đến lũ đệ tử của hắn hiện nay vẫn tìm cách hạ thấp ảnh hưởng của khởi nghĩa Yên Bái

Hắn có "quý động cơ yêu nước" của những nhân sỹ, trí thức, chuyên gia, các nhà công thương, nông dân, tiểu thương đã nhờ họ mà cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp tiến triển tốt đẹp (trước khi Tàu cộng chiếm toàn lục địa Tàu cuối năm 1949), và hắn cùng cái đảng Việt gian của hắn đã triệt tiêu họ như thế nào trong "đấu tố chính trị", "cải cách ruộng đất" v.v. Chẳng lẽ ông quên những cái tên Nguyễn mạnh Tường, Hoàng văn Đức, Dương đức Hiền, Phan Khôi, Nguyễn hữu Đang, Vạn Vân, Nguyễn sơn Hà, Trịnh văn Bô, Đào đình Quang, Đặng văn Hướng, Nguyễn thị Năm và v.v…? Và, ngay trước khi thực thi chính sách "mở cửa", "đổi mới" của thời Nguyễn văn Linh, thì chúng đã triệt tiêu hai đảng Dân chủ và Xã hội; cũng như "cởi trói" cho những văn nghệ sỹ, trí thức bị chúng triệt tiêu thì Văn Cao nặng chưa được 40 kí-lô; Trần Dần thì liệt nửa người; Quang Dũng nằm chờ nhận xe lăn; Tử Phác chết nghèo khổ; Nguyễn Bính chết cô đơn; Nguyễn mạnh Tường nhiều tuổi hơn lúc Hồ bị còng đi hỏa ngục; xương thịt của bà Nguyễn thị Năm (tức Cát thành Long) cũng như của kỹ sư nông học Đào đình Quang và v.v… đã bị mối đất đồi Thái-nguyên, Phú Thọ đánh chén sạch trơn!!! Và, chính cụ thân sinh ra ông mà ông tự hào được Hồ "tam cố thảo lư" và kết bạn thân, cũng được làm "cây cảnh" trên sân khấu chính trị ngay từ thuở 1951, nghĩa là lúc tổ chức Việt gian cộng sản của Hồ đầu thai trong lốt "đảng lao động Việt Nam"!!!

Tập đoàn Việt gian cộng sản có "quý động cơ yêu nước" của luật sư Trịnh đình Thảo với cái Mặt trận Liên minh Dân tộc của ông ta không? Và đặc biệt với hai đảng Dân chủ Việt Nam và đảng Xã hội Việt Nam, hai đảng này đã "hòa giải - hòa hợp" với chúng từ 1945 và cùng đi với chúng cho đến sau 30-4-1975, ngoan ngoãn thành hai đảng "cách mạng con nhộng" mà vẫn bị triệt tiêu một cách tàn nhẫn.

Trong cuốn "Mặt thật", trang 215, ở mục "Lấy oán báo ân", ông có đề cập đến hai nhân vật, công dân của Việt Nam Cộng Hòa, như sau: "Có những trường hợp còn tệ hơn thế, nghĩa là coi những người từng giúp đỡ mình như kẻ thù, đối xử với họ thật tàn nhẫn. Ví như trường hợp của linh mục Chân Tín và ông Nguyễn ngọc Lan. Tôi được quen biết hai ông từ khi tôi ở trong trại Davis đầu năm 1973, qua mấy nhà báo Pháp và Tây Đức. Linh mục Chân Tín rất quan tâm đến công bằng xã hội, đến hoàn cảnh bị đọa đày của tù nhân bị nhốt ở Côn đảo, ở khám lớn Sài-gòn, đặc biệt là anh chị em tù nhân cộng sản. Linh mục đã quyên góp nhiều tiền nong, áo quần, thuốc men để chuyển vào cho anh chị em bị tù ở khám lớn Sài-gòn, ở Côn đảo và cả ở Phú-quốc nơi có hơn 2000 tù quân nhân, phần lớn sỹ quan và binh lính các đơn vị miền Bắc bị bắt trong chiến tranh. Linh mục đã đưa ra những kiến nghị sắc sảo đòi cải thiện chế độ lao tù, từ chỗ cấm chỉ nhục hình, tra tấn tù nhân đến chỗ khám bệnh, chữa bệnh, gửi thuốc men những người tù bị thương và đau ốm. Ông đòi cho tù nhân được thân nhân đến thăm nuôi, tiếp nhận thư gia đình gửi đến cũng như gửi thư của người tù về các gia đình họ. Linh mục cũng rất quan tâm đến cuộc sống của tù nhân chính trị. Ông Nguyễn ngọc Lan khi còn là linh mục ở nhà thờ Kỳ Đồng cũng cố tìm cách liên lạc với đoàn đại biểu miền Bắc, biểu thị lòng mong muốn đất nước thanh bình, cả dân tộc được hòa hợp, phát huy nền văn hóa dân tộc, phát triển giáo dục. Ông không dấu thiện cảm đối với những việc làm tốt ở miền Bắc hồi ấy như dạy ở các trường đại học bằng tiếng Việt, công việc khảo cổ, việc xuất bản các sách quý của các danh nhân dân tộc. Ông rất mong nhận được những tạp chí chuyên ngành khoa học của miền Bắc. Ông cũng từng ra căn cứ của quân giải phóng ở Bến-lức để bàn về chánh sách hòa hợp. Sau ngày 30-4-1975, tôi lại có dịp gặp gỡ hai ông, nói chuyện khá lâu ở trong dinh độc lập."

Qua đoạn văn trên của ông, chúng tôi nhận thấy:

1. Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa, từ cái thuở trước 30-4-1975, chẳng cần ông góp ý, đã "Quý động cơ yêu nước" của hai ông linh mục Chân Tín và Nguyễn ngọc Lan; đã thỏa mãn những kiến nghị của hai ông ấy, mặc dù ngòi bút của linh mục Nguyễn ngọc Lan trong các bài "Pin con ó, Po con ín" cũng góp phần gió cho cơn bão xâm lược đỏ không phải là ít. Nhất là việc ông ta bỏ việc đạo, cất công ra Bến-lức đề "bàn về chánh sách hòa giải", chắc chắn đã bào mòn tinh thần chống xâm lược đỏ, chí ít cũng là của các con chiên do ông ta chăn dắt!!!

2. Cả hai ông linh mục Chân Tín và Nguyễn ngọc Lan đều là "trí thức có hạng", tiếc rằng kiến thức gom góp qua sách vở, nên cũng mơ hồ nhìn cuộc chiến của Việt Nam Cộng Hòa chống xâm lược đỏ thành "cuộc chiến quốc cộng, hoặc cuộc chiến huynh đệ", nên đã tự huyễn hoặc rằng cộng sản cũng yêu nước, tin rằng: "Họ nhằm vào những giá trị mà họ tin tưởng, theo biện pháp mà họ tin là đúng đắn", cho nên hai ông đã "Quý động cơ yêu nước" của chúng, để làm cái việc mà nói nôm na là: "ăn cơm quốc gia, thờ ma cộng sản"!

3. Như cách ông viết thì hai ông linh mục Chân Tín và Nguyễn ngọc Lan đã là "người làm ơn" cho đoàn quân xâm lược đỏ có chút dễ dàng nào đó để lê xích xe tăng của chúng vào Sài-gòn. Ai ngờ, vào được Sài-gòn rồi, lừa được quân, cán, chính Việt Nam Cộng Hòa vào các nhà tù rồi; đổi tên Sài-gòn thành Hồ chí Minh rồi; triệt tiêu các ước vọng "tự do" và "công lý" được đặt tên cho hai đại lộ của Sài-gòn thời Việt Nam Cộng Hòa rồi; lũ cộng sản hiện hình thành quân xâm lược đỏ và chúng đã "Quý động cơ yêu nước" của hai ông linh mục mơ mộng bằng cách quản chế dài hạn. Tổ tiên ta đã dạy: "Chớ cõng rắn về cắn gà nhà", xin ghi nhớ, đừng quên.

Câu chuyện về hai vị Chân Tín và Nguyễn ngọc Lan còn một chút thú vị nữa, chúng tôi xin được viết tiếp giùm ông. Đó là, hai vị đó cùng làm chung tờ nhật báo Tin Sáng với cựu dân biểu Ngô công Đức. Ngày 1-5-1975, các vị đó được tiếp nhận một người của "giải phóng" có tên là Kỳ Phương, làm cố vấn cho tòa soạn nhật báo Tin Sáng. Cái tên Kỳ Phương được sáng tác tối 30-4-1975. Còn tên cũ của "cố vấn" Kỳ Phương là Trần Phong, cựu trưởng ty công an của Việt gian cộng sản ở Thanh-hóa! Kỳ Phương được phái làm "cố vấn" chắc để tỏ lòng "Quý động cơ yêu nước" của quý vị Chân Tín, Nguyễn ngọc Lan và Ngô công Đức!

Sau 30-4-1975, quốc hội Việt gian họp ở Hà-nội. Ngô công Đức và linh mục Nguyễn ngọc Lan có được mời dự họp với tư cách "nhà báo". Cả hai phấn khởi lắm, nên lúc giờ giải lao đều chạy lên gặp Trường Chinh. Thật là chẳng ai học được chữ ngờ, vì Trường Chinh nghe giới thiệu xong, cũng chẳng thèm bắt tay ai, cũng chẳng thèm ngó đến linh mục Nguyễn ngọc Lan, chỉ nghiêm mặt đưa ngón trỏ chỉ thẳng mặt Ngô công Đức, nói trống không: "Liệu hồn, đừng quen tay viết bậy viết bạ!!!"

Hình ảnh trên, theo cách lý luận của ông (Bùi Tín) nghĩa là Trường Chinh đối xử với Ngô công Đức và linh mục Nguyễn ngọc Lan như vậy có nghĩa hắn có "Quý động cơ yêu nước" của Ngô công Đức và linh mục Nguyễn ngọc Lan, nhưng vì "hắn nhằm vào những giá trị mà hắn tin tưởng, theo biện pháp mà hắn tin là đúng đắn". Nghĩa là cái biện pháp chỉ mặt mắng như mắng ch…?(!)

6) Cuối 1954, khi đặt ách thực dân đỏ lên miền Bắc Việt Nam, một trong những ưu tiên hàng đầu của tập đoàn Việt gian Hồ chí Minh là tìm cách xóa bỏ quá khứ trong đầu óc nhân dân Việt Nam. Các làng xóm bị đội cho những tên mới như Xuân Thủy, Minh Khai, Hồng Phong v.v… Đền, chùa, đình, miếu, nhà thờ bị tàn phá. Nhiều tộc phả của những dòng họ lớn có công dựng nước và giữ nước; nhà thờ tổ; văn bia bị hủy hoại, bị kết tội phong kiến lạc hậu cần xóa bỏ. ở các đô thị, tên của tụi Việt gian cộng sản được lấy làm tên phố.

Việc xóa bỏ quá khứ này là một kiểu xóa bỏ có chọn lọc, nghĩa là cái gì không có lợi cho tập đoàn Việt gian Hồ chí Minh thì bị xóa bỏ. Đây là sáng kiến của Hồ chí Minh, nên từ cuối 1945, hắn lèo lái để mọi người quên cái tên Hoàng Diệu đã được chính phủ Trần Trọng Kim lấy đặt cho Hà-nội nhằm xóa bỏ giai đoạn Trần Trọng Kim trong lịch sử Việt Nam. Vì thế mà không ít người đã ngoan cố cãi rằng "chưa nghe nói Hà-nội đã từng được gọi là Hoàng Diệu". Hiện nay trong "Biên niên tiểu sử Hồ chí Minh" (dựa vào văn bản, tài liệu hiện lưu trữ trong cái gọi là Bảo tàng Hồ chí Minh) có ghi các đoàn đại biểu công nhân "thành Hoàng Diệu" do Trần danh Tuyên dẫn đầu đến chào chính phủ; khi tới Pháp về hội nghị Fontainebleau, Hồ cũng trao thư và quà của "thiếu nhi thành Hoàng Diệu" cho thiếu nhi Việt Nam sinh sống tại Pháp; và mới đây nhất, ông Trần đại Sơn, trong nhóm gọi là "Đấu tranh cho dân chủ" ở trong nước, có ghi nhận đã từng là "tự vệ quyết tử của thành Hoàng Diệu". Và, đến nay chắc cũng rất ít người còn nhớ rằng đơn vị vũ trang đầu tiên ở Hải-phòng chạm súng với thực dân Pháp, khi chúng quay lại miền Bắc Việt Nam 1945-46, chính là đại đội chủ lực mang tên Ký Con - một lãnh tụ VNQĐD -, cũng vì đường lối xóa bỏ quá khứ của tập đoàn Việt gian cộng sản mà ra như vậy. Vì chúng không muốn mọi người biết đến công lao của các đảng phái không cộng sản!

Đối với Việt Nam Cộng Hòa cũng thế. Sau ngày 30-4-1975, quân xâm lược đỏ đã đổi tên Sài-gòn thành Hồ chí Minh. Chúng lộ rõ bộ mặt Việt gian cướp của giết người, nên chúng đã xóa bỏ các tên Tự Do và Công Lý của hai con đường nổi tiếng của Sài-gòn để thế vào 2 cái tên rất vô duyên là "Đồng khởi và Nam kỳ khởi nghĩa". Tự xưng là "giải phóng" mà lại chối bỏ "Tự do" và "Công lý"!!!(?) Rồi các tên phố Duy Tân và Hiền Vương cũng bị bỏ luôn. Lấy một loạt tên những lũ mà chẳng ai biết từ hang cua hang rắn nào bò ra, như: Lê thị Riêng, Huỳnh văn Bánh v.v… đặt tên cho các đường phố của Sài-gòn. Rồi chúng ghép và đổi tên các tỉnh, huyện, xã v.v… Tất cả không ngoài mục đích làm cho các thế hệ sau quên hết rằng đã có thời kỳ lịch sử của Việt Nam Cộng Hòa mọi mặt đều tốt hơn hẳn so với chế độ thực dân đỏ. Chúng múa lại đúng võ, của quân xâm lược Tàu xưa kia đã, đổi Việt Nam thành các quận Giao chỉ, Cửu chân, Nhật Nam vậy!!!

Còn những chiến tích giết dân của chúng xưa kia, về văn bản chúng đã cho lũ trí nô biên tập lại, sáng tác và bổ xung thêm các tài liệu giả mạo để biến việc giết dân thành cứu dân. Các thế hệ sau này đã đành, ngay các thế hệ Việt Nam hiện tại, cùng với các ngòi bút ngoại quốc "thiếu kiến thức về cộng sản Việt Nam" hoặc bợ đỡ ác quỷ như Ô-li-vơ-Tốt (Olivier Tođ) hay Bô-oen (Kevin Bowen giám đốc trung tâm William Joiner Center của University of Massachusetts) đã dựa vào tài liệu xuyên tạc đó để làm phim ảnh, viết bình luận, soạn tài liệu nghiên cứu về Việt Nam, hoàn toàn không nhận ra hoặc không dám nhận ra bộ mặt thật cuộc chiến ở Việt Nam là cuộc chiến của nhân dân Việt Nam chống sự bành trướng của chủ nghĩa thực dân đỏ Nga-Tàu.

Và, một số học giả, trí thức Việt Nam, thuộc nhà họ vẹt, đã hỉ hả "trích dẫn, sao chép" lại "tài liệu, ý kiến" của bộ máy làm hàng giả của Việt gian cộng sản - tức các ban tuyên giáo và khoa giáo "trung ương" - đã được "tây, đầm hóa" - để cho ra lò những bài nghiên cứu, những sách, có động cơ đi đêm với quân xâm lược đỏ, được che bằng cái mặt nạ "khách quan, hàn lâm, quốc tế, khoa học", hiệp đồng với tụi trí thức tả phái và tụi Việt gian cộng sản nằm vùng (ở hải ngoại), lợi dụng chiêu bài "tự do ngôn luận, tự do tư tưởng" để đầu độc các thế hệ trẻ Việt Nam cả trong và ngoài Việt Nam.

Cho nên, tập đoàn Việt gian cộng sản vẫn đều đều hàng năm cho kỷ niệm ngày Xô-viết Nghê.-tĩnh (1930-31); ngày thành lập đảng cộng sản Đông đương (3-2-1930), rồi nào là "Nam kỳ khởi nghĩa" cho đến "tổng tiến công và nổi dậy 1968 (Tết Mậu Thân)", "đại thắng mùa xuân 30-4-1975" v.v. Có thấy xóa bỏ quá khứ đâu, mà toàn là "quá khứ máu dân xương lính" cả!

Ngay ông, đặt tôn chỉ, trên giắy trắng mực đen hẳn hoi, rằng: "Viết theo điều mình nghĩ, bằng cái đầu "lạnh" của chính mình, không a dua, không nói theo, không bôi đen hoặc tô hồng, công bằng với cả những người mình lên án"(77) Nhưng, xin ông đọc lại hai cuốn "Hoa xuyên tuyết" và "Mặt thật" của ông, để thấy rằng, ngôn ngữ ông dùng hoàn toàn là "ngôn ngữ của bồi bút cộng sản". Thí dụ, tụi do Hồ, Lê Duẩn cho nằm vùng lại ở miền Nam Việt Nam sau Hiệp định Genève 1954, đã thi hành nghị quyết 15 của đảng Việt gian cộng sản (1-1959) là dùng bạo lực ở miền Nam Việt Nam được ông thổi lên là những người yêu nước, kể cả tên sát nhân Bảy Lốp bị bắt quả tang và bị tướng Loan bắn chết, ông cũng gọi hắn là "người yêu nước". Khi viết về tụi ngụy quân cộng sản thì ông lễ phép: "một vị thiếu tướng làm việc ở cục tác chiến."(78). Viết về Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, thì ông hạ bút: "Từ hồi năm 1975, tôi gặp hơn 40 viên tướng Sài-gòn đi cải tạo."(79) Ông hãy lớn tiếng đọc hai câu của ông mà chúng tôi trích dẫn bên trên xem có bôi đen, tô hồng và công bằng không? Đấy là một thí dụ nhỏ để giúp ông thấy được rằng "ông viết dzậy mà không phải dzậy"!!!

Muốn người ta quên quá khứ, xóa bỏ hận thù để từ đó đặt cơ sở cho việc hòa giải – hòa hợp thì kẻ gây tội ác phải bằng hành động chứng minh rằng họ ân hận với tội ác đã gây ra, có biện pháp cụ thể, có lịch trình rõ ràng để sửa sai tiến tới hòa giải. Điều quan trọng trước nhất là phải thực hiện bình đẳng trong quá trình hòa giải.

Kêu gọi hòa giải với thái độ trịch thượng, ngôn ngữ kẻ cả và trục lợi như ông Bùi Tín đã viết trong hai cuốn "Hoa xuyên tuyết" và "Mặt thật", mà chúng tôi đã trích dẫn, thì chỉ tốn thì giờ, phí giấy mực, rồi cũng lại "công dã tràng" mà thôi!